Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014
Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014
BẢN ĐĂNG KÍ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2014
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
BẢN ĐĂNG KÍ
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh năm 2014
Với chủ đề “Nói đi đôi với làm; gần dân,
sát việc; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; chống chủ nghĩa cá nhân ”
Họ và
tên: A Bé
Ngày tháng năm sinh: 26/03/1989
Chức vụ Đoàn;
Đảng: Đoàn viên đoàn TNCS HCM
Chức vụ
chính quyền:
Nhiệm vụ
được giao: GV THPT dạy môn Lịch sử
Qua việc học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh, tôi xin đăng kí phấn đấu làm tốt công việc sau đây:
I. NÊU NHỮNG CHẾ,
KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC Ở NĂM 2013 VÀ HƯỚNG KHẮC PHỤC TRONG NĂM 2014
1. Thái độ đối với phụ huynh, học sinh và đồng nghiệp
a. Những hạn chế khó khăn
-Đối với phu huynh
học sinh:Là một giáo viên bộ môn Lịch sử mới được phân công công tác nên việc
tìm hiểu phụ huynh và làm cầu nối giữa giáo viên bộ môn với phụ huynh học sinh
và nhà trường có phần hạn chế do chưa có kinh nghiệm công tác và chưa kinh qua
nhiệm vụ chủ nhiệm.
- Đối với học sinh:Là
một giáo viên bộ môn Lịch sử mới về trường nên công việc tìm hiểu tâm tư nguyện
vọng,sở thích của học sinh còn hạn chế.Chưa thật sự nắm bắt được ước muốn hay
năng lực học tập của từng học sinh trong trường.
-Đối với đồng nghiệp:
Do mới nhận công tác,nên việc tiếp xúc,tìm hiểu và phối hợp phân công nhiệm vụ
do mình đảm trách với đồng nghiệp còn gặp phải nhiều khó khăn.Công tác chuyên
môn cũng như công tác khác có phần hạn chế vì chưa biết cách phối hợp linh hoạt
với đồng nghiệp.
b. Hướng khắc phục:
-Đối với phụ huynh học
sinh:Trong thời gian tới,là một giáo viên bộ môn,tôi cần phải tìm hiểu sâu sắc
hơn nữa về phía phụ huynh mà có liên
quan đến công tác chuyên môn của mình.Cố gắng làm tốt với vai trò là một
người trung gian cầu nối giữa học sinh và phụ huynh học sinh với nhà trường để
cho công tác chuyên môn cũng như công tác hở trợ với GVCN quản lí học sinh tốt
hơn.
-Đối với học sinh:
Theo dõi bảng điểm,quá trình học tập của học sinh thông qua hồ sơ chủ nhiểm của
GVCN để nắm bắt rõ hay phần nào tâm tư nguyện vọng và năng lực của từng học
sinh nhằm đề ra phương pháp dạy học phù hợp cho từng đối tượng học sinh theo bộ
môn của mình.
-Đối với đồng
nghiệp: Trong thời gian tới, cố gắng phối hợp và học hỏi kinh nghiệm tốt với
đồng nghiệp trong công tác chuyên môn cũng như công tác lao động để hoàn thành
tốt mọi nhiệm vụ được giao.
2. Thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao
a. Chuyên môn
* Những hạn chế khó khăn
-Do mới nhận phân công tác dạy môn Lịch sử tại trung tâm và là sinh
viên mới ra trường nên kinh nghiệm giảng dạy còn yếu kém.Năng lực chuyên môn
thì có,nhưng khả năng truyền đạt(năng lực sư phạm) còn hạn chế,chưa nắm bắt
được năng lực của từng học sinh để truyền đạt cho phù hợp
-Ngoài ra,do mới nhận công tác nên quá trình lên lớp còn bở ngở,chưa
thật sự quen trong việc làm một nhà giáo truyền kiến thức cho HS.
* Hướng khắc phục:
-Trong thời gian tới,là một giáo viên mới ra trường và chưa có nhiều
kinh nghiệm giảng dạy,tôi cần phải tăng cường học hỏi các giáo viên thâm niên
đã có nhiều kinh nghiện trong ngành nghề: Đi dự giờ mẫu,trao đổi,học hỏi,….
b. Công tác khác (GVCN,
phụ trách nề nếp, lao động…..)
* Những hạn chế khó khăn
-Công tác lao động:Kinh nghiệm công tác còn hạn chế: khả năng chỉ đạo
còn yếu,khả năng tập hợp học sinh tham gia lao động còn nhiều khó khăn,chưa
thật sự tự làm được kế hoạch lao động hoàn chỉnh theo từng tuần.
* Hướng khắc phục
-Cần phải học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp tiền nhiệm đã có
nhiều năm làm công tác lao động…Đồng thời,phải tự rèn luyện cho bản thân khả
năng chỉ đạo,khả năng tập hợp đám đông tốt hơn nữa
c. Công đoàn; Đoàn TN:
-Tham gia đầy đủ các phong trào do Đoàn phát động,thực hiện nghiêm túc
các điều lệ đoàn và đóng đoàn phí đầy đủ.
-Tham gia xây dựng Công đoàn của Trung tâm thêm vững mạnh như: Lao động
góp quỉ công đoàn,tham gia các phong trào từ thiện do công đoàn phát động,….
II. VỀ THỰC HIỆN VIỆC “HỌC TẬP VÀ
LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH”:
1.
Về tư tưởng chính trị
-
Mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng phải tự giác học tập, rèn luyện, phải có
chương trình hành động cụ thể, thiết thực, tạo được bước chuyển biến sâu sắc về
nhận thức, quyết tâm sửa mình theo tấm gương của Người.
-Tăng cường công tác giáo dục cán bộ, đảng
viên, tạo sự chuyển biến thực sự về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Công
tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải nhằm nâng cao nhận thức chính trị, giác
ngộ giai cấp, giác ngộ cách mạng của cán bộ, đảng viên về Chủ nghĩa Mác -
Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng
cách mạng của Đảng, hết lòng phấn đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải
hướng tới sự tự giác ngộ trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, nhân cách, cán
bộ, đảng viên thông qua hành động thực tế; luôn cảnh giác trước những cám dỗ về
danh lợi, vật chất, tránh rơi vào chủ nghĩa cá nhân, thống nhất giữa lời nói và
việc làm, mẫu mực trong chấp hành chỉ thị, nghị quyết, Điều lệ Đảng, pháp luật
Nhà nước; luôn nâng cao cảnh giác, chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán
những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội
bộ Đảng; làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; giữ gìn sự đoàn kết, thống
nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội.
-Mỗi cán bộ, đảng viên
phải nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4
(khóa XI). Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
“Trong công tác, trong tranh đấu, trong huấn luyện, các đảng viên, các cán bộ,
cần phải luôn luôn tự hỏi mình, tự kiểm điểm mình và đồng chí mình. Luôn luôn
dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình, thì khuyết điểm nhất định hết
dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi”(1). Tự phê bình
và phê bình là việc làm thường xuyên trong sinh hoạt Đảng, mục đích là để tự tu
dưỡng, giúp nhau cùng tiến bộ và củng cố đoàn kết nội bộ. Hiện nay, chất lượng,
hiệu quả sinh hoạt tự phê bình và phê bình giảm sút. Tự phê bình và phê bình
phải gắn với nêu cao tính tiền phong gương mẫu của người đứng đầu và cấp
uỷ.
-Vì vậy:+ Rèn luyện tư tưởng đạo đức chính trị để đáp ứng
nguyện vọng của nhân dân.Cần phải chấp hành tôt chủ trương, chính sách của
Đảng,pháp luật của nhà nước,chấp hành tốt nội quy của cơ quan và quy định hương
ước ở trong làng,để trở thành một công dân tốt.
+Tích
cực tự giác thực hiện nhiệm vụ được giao
+Tích
cực chống biểu hiện quan liêu,tự tư tự lợi,không a dua xu nịnh,không kéo bè kéo
cánh,thẳng thánh trung thực trong công tác cũng như cuộc sống hằng ngày
2. Nói đi đôi với làm
- Nói đi đôi
với làm là một trong ba nguyên tắc, đạo đức theo quan điểm của Hồ Chí Min
+ Nói đi đôi
với làm;
+ Xây đi
cùng với chống;
+ Tu dưỡng đạo đức suốt đời.
- Nói đi đôi
với làm là thể hiện sự thống nhất giữ lý luận và thực tiễn, giữa lời nói với
việc làm
- Nói đi đôi với làm là biểu hiện hiệu quả công việc,
sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, giữa tư tưởng đạo đức vả hành vi đạo đức
của mỗi người.
Tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh về nói đi đôi với làm được thể hiện như sau:
a. Nói phải đúng chủ trương chính sách của Đảng và Nhà
nước, không được xuyên tạc, nói sai.
b. Không được nói một đàng, làm một nẻo
- Nói phải cụ thể, thiết thực;
- Không được nói nhiều, làm ít hoặc nói mà không làm;
c. Không được hứa mà không làm
"Tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho
người khác bắt chước"
-Vì vậy mà,Hồ Chí Minh đã nói rằng: "Cả đời tôi
chỉ có một mục đích là phấn đấu vì quyền lợi của Tổ quốc vì hạnh phúc của nhân
dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non hoặc ra vào chốn tù, tôi xông pha sự
hiểm nghèo...là vì mục đích đó. Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu tôi cũng chỉ theo
đuổi một mục đích là làm cho ích Quốc, lợi dân".
-Vậy:+Đối
với một cán bộ viên chức trong trung tâm,tôi sẽ thực hiện nghiêm chỉnh việc học
tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM về nói đi đôi với làm,đó là :nhận ra
những khuyết điểm,yếu kém(công tác chuyên môn,rèn đạo đức,…) của mình và sẽ cố
gắng sữa chữa,khắc phục trong thời gian tới.
+Là một
giáo viên luôn luôn
3. Gần dân,
sát việc
- Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên gần dân, thấu
hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và bản thân Người là tấm gương sáng về
phong cách gần dân. Sự gần gũi đó được thể hiện ngay từ phút đầu tiên Người ra
mắt quốc dân. Khi vừa đọc một đoạn Tuyên ngôn Độc lập, Người đã dừng lại hỏi:
“Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Chỉ là một câu hỏi thôi, một câu hỏi bình
dị, tự nhiên mà thực sự đã làm xúc động trái tim hàng chục triệu đồng bào toàn
quốc ! “Cả muôn triệu một lời đáp” Có! Như Trường Sơn say gió Biển Đông”. Đó là
một điển hình mẫu mực về mối quan hệ gần gũi, thân thiết hiếm có giữa lãnh tụ
với quần chúng, ngay ở những giây phút lịch sử trang trọng nhất
-Bên cạnh việc gần dân như
vậy,Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở mỗi cán bộ, Đảng viên phải làm những công việc
được giao và đúng trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó.Những công việc đó
phải sát thực tê,sát với công việc đã được giao phó. Không được đang đảm trách
công việc khi chưa xong mà chuyễn sang công việc khác,làm mỗi việc một ít dẫn
đến không chặt chẽ,cụ thể mà kết quả không đi tới đâu.
-Vì vậy:+Là một cán bộ viên chức của nhà nước,ngoài
công tác chuyên môn tôi cần phải tiếp xúc với người dân,phụ huynh học sinh để
hiểu tâm tư nguyện vọng của họ đối với phương pháp dạy học,chất lượng giáo dục
của nhà trường.Nếu được,cần phải tiếp nhận ý kiến của người dân về đổi mới
phương pháp dạy học để góp phần sự pháp triển nền giáo dục nước nhà.
+Mặt khác,trong quá trình công tác,mỗi khi nhận một nhiệm vụ mới,tôi cần
phải làm đến nơi đến chốn một công việc đó rồi mới đến công việc khác và phải
làm có hiệu quả,chất lượng.Trong quá trình giải quyết công việc,cần phải làm
sát việc không được lơ là,thiếu sót.
4. Dám nghĩ,
dám làm, dám chịu trách nhiệm
-Dám nghĩ,dám làm:Đây là một
yêu cầu rất quan trọng đối với người cán bộ, đảng viên, thể hiện vai trò tiền
phong gương mẫu của mình đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.
“Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, người đảng viên không sợ khó, không
sợ khổ mà phải đi tiên phong trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, phải
làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên, về mọi
mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm,
trong đó chủ yếu trên ba mối quan hệ đối với mình, đối với người, đối với
việc. Đối với mình, phải không tự cao, tự đại, tự mãn, kiêu ngạo mà luôn
học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm, tự phê bình để phát triển điều hay, sửa
đổi điều dở của bản thân; đối với người, luôn giữ thái độ chân thành,
khiêm tốn, đoàn kết; đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào phải giữ
nguyên tắc để việc công lên trên, lên trước việc tư, đã phụ trách việc gì phải
tận tâm, tận lực làm cho kỳ được, không sợ khó khăn, gian khổ, việc gì có lợi
cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh.
-Dám chịu trach nhiệm
+Trách nhiệm: Là điều phải làm, phải gánh vác bởi
mỗi người ai cũng có trách nhiệm vì mỗi người đều có vị trí trong mối quan hệ
với xã hội, gia đình.
+Tinh thần trách nhiệm: Là kết quả nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của con người. Ví
dụ: bác sĩ cần có trách nhiệm cứu chữa bệnh nhân, thầy giáo dạy dỗ học sinh.
+Dù nhỏ hay lớn, khó hay dễ khi được giao cũng phải
làm cẩn thận, chớ làm cho xong chuyện, dễ làm khó bỏ là sai.
+Vì thế:*Bản thân là một giáo viên dạy môn Lịch sử,
tôi cần phải nghĩ ra phương pháp dạy mới phù hợp với từng đối tượng học
sinh,phương pháp dạy làm sao để cho học sinh hiểu bài,nắm bắt bài.Bên cạnh nghĩ
ra phương pháp mới đó,tôi cần phải áp dụng nó và chịu trách nhiệm chất
lượng,kết quả học tập của học sinh của môn đó do mình đảm nhiệm.
*Phải hiểu chính sách và phải giải thích,
tuyên truyền cho mọi người hiểu, hướng dẫn cho mọi người chấp hành chính sách,
vận dụng chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của quần chúng, hợp với
nguyện vọng của quần chúng.
5. Chống chủ
nghĩa cá nhân
+Theo Bác Hồ "Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng
chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập
thể". Hoặc "Chủ nghĩa cá nhân đặt lợi ích riêng của mình, của gia
đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc". Người có nói
"Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy"
+Sự cần thiết phải chúng chủ nghĩa cá nhân
- Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù của cách mạng;
- Chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm;
- Chủ nghĩa cá nhân là thứ rất gian dảo, xảo quyệt, là
rất dễ kéo con người xuống dốc, là kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội.
+Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với
cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt tươi được, còn cỏ dại không
cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng công sản phải rèn luyện gian khổ mới có
được, còn tư tưởng cá nhân như cỏ dại sinh sôi nảy nở
+ Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân
* Bệnh nể nang:
- Cấp trên sai không dám đấu tranh, người đồng chí sai
phải kỷ luật nhưng chỉ làm qua loa đại khái, che đậy người thân;
- Bệnh kéo bè phái, kéo cánh, cục bộ, bản vị;
- Tập hợp bà con họ hàng để thực hiện những điều không
chân chính;
- Ai hợp với mình thì người xấu cũng cho là tốt, việc
dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với
mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm
pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống.
* Bệnh cá nhân:
- Thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh,
được lòng tất cả mọi người, bên nào mạnh thì theo;
- Luồn cúi đi cửa sau, thưa bẩm, xuề xòa, nịnh bợ. Khi
đạt được mục đích leo lên cao thì nịnh trên, nạt dưới, kéo bè kéo cánh.
* Bệnh hữu danh vô thực:
"Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ
chính, không từ dưới làm lên, làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít xuýt
ra nhiều để lấy một bản báo cáo cho hay. Nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch".
* Bệnh tham lam: Đây là loại người tự tư, tự lợi. Dựa
vào thế lực của Đảng, nhà nước để theo đuổi mục đích riêng của mình, người
không sợ mất thanh danh của tập thể, không sợ mất danh giá của mình.
* Bệnh lười biếng: Việc dễ thì tranh lấy cho mình,
việc khó thì đùn cho người khác. Công việc nguy hiểm thì tìm cách trốn tránh.
* Bệnh tham ô: Ăn cắp, ăn bớt của công, chi ít, khai
nhiều
+ Tác hại của chủ nghĩa cá nhân:
"Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người hôm qua
là vĩ đại có sức hấp dẫn lớn không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi
người yêu mến và ca ngợi. Nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ
nghĩa cá nhân. Sa vào chủ nghĩa cá nhân là tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa,
tham danh trục lợi, thích địa vị, quyền hành, tự cao, tự đại, coi thường tập
thể, xem thường quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, xa rời quần chúng, xa rời
thực tế. Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm chỉ làm hư hỏng con
người".
+Vì vậy,Là một cán bộ viên chức trong ngành giáo
dục,tôi cần phải cố gắng chống lại chủ nghĩa cá nhân, tránh các căn bệnh của
chủ nghĩa cá nhân như:bệnh nể nang,bệnh cá nhân,bệnh lười biếng,bệnh tham
lam,bệnh tham ô,…bằng cách nhận thức được tác hại của căn bệnh chủ nghĩa cá
nhân đối với Đảng,với nhân dân và đất nước.
III. QUY ĐỊNH
CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC THEO TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH
III. QUY ĐỊNH CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC THEO TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC, PHONG
CÁCH HỒ CHÍ MINH
1. Đối với Đảng, Tổ quốc và quê hương
-Đối với Đảng: Trung thành tuyệt đối với Đảng, ra
sức phấn đấu xây dựng Đảng,cố gắng rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức tốt
để có cơ hội và đủ điều kiện có thể vào hàng ngữ của Đảng.
-Đối với tổ quốc:Phát huy truyền thống yêu quê
hương, đất nước,với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Góp phần làm cho Tổ quốc
giàu về kinh tế, đẹp về văn hóa, vững về chính trị, mạnh về quốc phòng an ninh.
-Đối với quê hương: Ra sức cùng xậy dụng quê
hương ngày càng đẹp,càng giàu ,tuyên truyền cho con em trong làng cố gắng đến
trường học tập.Là thành viên của làng,tôi cần phải chấp hành tốt nôi quy hương
ước mà làng đã quy định.Góp phần ổn đinh an ninh-quốc phòng nơi cư trú.
2. Đối với nhân dân
Phải gần dân, hiểu dân, học dân, tôn trọng nhân
dân, có trách nhiệm với dân, vì nhân dân phục vụ; chống quan liêu, mệnh lệnh,
nhũng nhiễu với nhân dân.
3. Đối với tổ chức đảng, cơ quan
Bản thân gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chỉ
thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật chủa Nhà nước và những quy định
của cơ quan đơn vị đã đề ra
4. Đối với công việc
Phải tận tụy, trách nhiệm, làm việc có chất lượng
chất lượng, hiệu quả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
5. Đối với đồng chí, đồng nghiệp.
Phải thân ái, đoàn kết,
tương trợ, hợp tác giúp nhau cùng tiến bộ; chống chủ nghĩa cá nhân, cục bộ địa
phương, hẹp hòi, vị kỷ.
6. Đối với địa phương
Tham gia mọi hoạt động của địa phương do địa phương
phát động; thực hiện nghĩa vụ của công dân nơi cư trú.
7. Đối với gia đình.
Là một người con cả trong gia đình,và là người chồng
trong tương lai phải luôn chăm lo cho gia đình,hiếu thảo,báo đáp ơn bố mẹ..chăm
sóc cho người vợ, biết kính trên nhường dưới; lễ phép với ông bà, cha mẹ.
8. Đối với bản thân.
Phải gương mẫu chấp hành các chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; không ngừng học tập, ra sức thực hiện
cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nói đi đôi với làm, không xa hoa lãng
phí, phô trương, xây dựng gia đình văn hóa mới.
Đăk
Hà, ngày 21 tháng 4 năm 2014
NGƯỜI ĐĂNG KÝ
A Bé
Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014
Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013
Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2013
Tương quan lực lượng giữa ta và địch trong các cuộc chiến tranh giữ nước thời trung đại
Trên mấy nghìn năm lịch sử, từ khi vua Hùng dựng nước Văn Lang đến nay, dân tộc ta đã bao lần chiến đấu chống ngoại xâm phong kiến phương Bắc và đế quốc Âu, Mỹ thường mạnh hơn ta về tiềm lực chiến tranh. Biết bao chiến tích oai hùng trước những kẻ thù mạnh nhất thời đại, trong đó phải kể đến giai đoạn lịch sử trung đại của dân tộc như các đế chế phong kiến Trung Quốc đời Tần, Đường, Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, còn vang dậy trong lòng nhân dân Việt Nam và được nhiều người trên thế giới biết đến và đánh giá cao.
Nước ta ở vào một vị trí địa lý đặc biệt, nơi tiếp xúc giữa đất liền và hải đảo, nằm ở góc cực Đông Nam của đại lục châu Á, nhìn ra Thái Bình Dương, ở trên con đường giao thông thủy bộ thuận lợi từ Nam lên Bắc, từ Đông sang Tây... Mặt khác nước ta vốn từ xưa đã nổi tiếng là nơi có “rừng vàng biển bạc”. Với vị trí trọng yếu và những nguồn tài nguyên phong phú, nước ta đã trở thành nơi gặp gỡ nhiều nhóm dân cư trên đường thiên di, nơi giao lưu nhiều luồng văn hóa phương Đông và cũng là địa bàn chiến lược, mà nhiều thế lực xâm lược thèm khát, nhòm ngó. Bởi vậy, ngay từ buổi đầu dựng nước, nhiệm vụ chống ngoại xâm đã trở nên cấp thiết trong sự nghiệp giữ nước. Quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước đã ăn sâu trong đầu óc người dân Việt Nam
Kẻ thù muốn đánh chiếm nước ta không chỉ để bóc lột nhân dân, vơ vét của cải, khai thác nguồn tài nguyên phong phú, mà còn muốn biến nước ta thành một đầu cầu chiến lược để bành trướng khắp vùng Đông Nam Á. Vì thế, trong tiến trình lịch sử, dân tộc ta phải luôn luôn trong tư thế sẵn sàng chống xâm lược và liên tiếp phải đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của những thể lực bành trướng cường bạo.
Trong lịch sử đấu tranh giữ nước nói chung, hầu hết các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta đều diễn ra trong hoàn cảnh so sánh lực lượng rất chênh lệch. Kẻ xâm lược là những quốc gia phong kiến lớn, là những đế quốc cường bạo vào bậc nhất thế giới.
Thế kỷ thứ X - XI, dân tộc ta hai lần kháng chiến chống xâm lược Tống.Đó là cuộc chiến tranh chống Tống xâm lược năm 981 của Lê Hoàn và cuộc kháng chiến đời Lý năm 1077. Lúc đó, nước Tống có khoảng trên 50 triệu dân, còn Đại Việt chỉ có chừng 4 triệu người., dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt kết quả của cuộc kháng chiến chống Tống đã đem lại cho dân tộc ta gần 200 năm hòa bình xây dựng đất nước.
Ở thế kỷ XIII, , đế quốc Mông - Nguyên ba lần sang xâm lược Đại Việt trong 30 năm, từ 1258 đến 1288. Ai cũng biết, đế chế Mông - Nguyên là một đế quốc khổng lồ, tàn bạo nhất thế giới đương thời, đang nuôi tham vọng làm bá chủ thế giới. Trước khi đánh vào Đại Việt, bè lũ Mông - Thát đã kiến lập được một đế quốc rộng lớn từ Bắc Á đến Đông Âu. Khi nhà Nguyên thành lập (1279), chúng đã thu phục cả lục địa Trung - Hoa và trở nên một đế quốc rộng lớn với số dân khoảng 60 triệu. Chúng huy động đến 60 vạn quân thiện chiến nhất của thời đại, như cuộc xâm lăng lần thứ hai năm 1285. Trong 3 lần kháng chiến đó, dân tộc Việt Nam đã lập nên những chiến công hiển hách ở Đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long, Vạn Kiếp, Bạch Đằng giang. Những thắng lợi rực rỡ đó đã bảo vệ nền độc lập của ta, đưa lại hòa bình cho đất nước trên 100 năm, và cũng góp phần chặn làn sóng xâm lăng xuống Đông Nam Á của đế quốc Mông Cổ hung bạo nhất thời đó.
Đến thế kỷ thứ XVIII, dân tộc ta có trên dưới 10 triệu người mà đã anh dũng chống lại và chiến thắng đế quốc Mãn Thanh, chỉ trong gần 10 ngày đêm, đất nước ta lại sạch bóng quân thù , kẻ đã chinh phục thống trị cả một miền rộng lớn với trên 300 triệu dân. Là những kẻ thống trị ôm mộng bá chủ thế giới, bọn đế quốc chủ tâm xây dựng những đạo quân lớn mạnh chuyên để đàn áp và xâm lược. Về quân số, kẻ thù bao giờ cũng có số lượng gấp ta nhiều lần.
Tóm lại, một quy luật phổ biến trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta là kẻ thù thường là những nước lớn, có quân đội đông, còn ta là một nước nhỏ, ít quân. Về số lượng quân đội của kẻ xâm lược bao giờ cũng gấp ta nhiều lần.
Thực tế trên chiến trường, quân địch đã tạo được một binh lực lớn hơn ta. Tạo nên được ưu thế lớn hơn đối phương về binh lực là một nhân tố thắng lợi trên chiến trường. Song, trong chiến tranh, dân tộc ta không có điều kiện để thực hiện điểm này. Ta là một nước nhỏ, dân số ít, nên khả năng huy động quân đội ra chiến trường của ta có hạn. Trái lại, do tiềm lực của nước lớn, các đế chế Trung Quốc có khả năng huy động được những đạo quân xâm lược có ưu thế về số lượng, tiếp tế và có nguồn bổ sung to lớn. Do đó, nhìn về binh lực trong các cuộc chiến tranh trước đây, ban đầu bao giờ quân xâm lược cũng có ưu thế hơn ta rất nhiều. Lý chống Tống (1077) ta có 10 vạn, địch có 30 vạn quân. Trần chống Mông - Nguyên lần thứ hai (năm 1285) và lần thứ ba (1288) ta có 20 vạn quân, địch có 50 vạn quân, thời kỳ Quang Trung chống quân xâm lược nhà Thanh: ta có 10 vạn, địch có 30 vạn quân.
Như vậy, dân tộc ta không những phải chống ngoại xâm thường xuyên, mà còn phải chiến đấu trong hoàn cảnh rất gian khổ, ác liệt với so sánh lực lượng hết sức chênh lệch. Để danh chiến thắng ta đã sử dụng nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều là một quy luật xuyên suốt trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta khi số lượng quân đội của kẻ xâm lược bao giờ cũng gấp ta nhiều lần.
Phải thắng mọi thế lực xâm lược, bất kể đó là những thế lực to lớn và phản động như thế nào; phải bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc là một yêu cầu khách quan trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước.
Nhìn lại lịch sử trong suốt thời trung đại, dù kẻ thù là Tống, Mông - Nguyên, Minh, to lớn, đông quân, lắm mưu mô xảo quyệt và tàn bạo, dù chúng là những đội quân đã lừng danh trên thế giới từ những cuộc chiến tranh nội bộ hay từ những cuộc chinh phục Đông - Tây, nhưng khi vào Đại Việt, cuối cùng chúng đều không thoát khỏi thất bại thảm hại. Tại sao vậy? Tại sao một nước nhỏ, dân ít mà lại chiến thắng những đế quốc to lớn gấp nhiều lần? Tại sao một đội quân không đông mà đánh tan những đạo quân viễn chinh khổng lồ, hiếu chiến và tàn bạo? Những kinh nghiệm truyền thống của dân tộc Việt Nam chống xâm lược đối với chúng ta thật có ý nghĩa.
Có được những chiến thắng như vậy là do những nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất: Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước:
Ngay từ buổi đầu tiên kháng chiến chống xâm lược của nhà Tần, tinh thần thà hy sinh tất cả, chứ không đầu hàng giặc đã nổi bật trong nhân dân Âu Lạc. Sử ký Tư Mã Thiên chép: “Quân Tần đánh giữ lâu ngày, lương thực bị tuyệt và thiếu. Quân Tần đóng ở đất vô dụng, tiến không được, thoái cũng không xong”. Và Hoài Nam Tử thời Hán, trong Nhân gian huấn đã ghi: “Người Việt đều vào rừng ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người tuấn kiệt lên làm tướng, ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư. Quân Tần thân phơi máu chảy hàng mấy chục vạn người”.
Tinh thần bất khuất thà hy sinh tất cả, bỏ hết tài sản ruộng vườn, vào rừng sống với cầm thú để kháng chiến, nhất định không chịu sống nô lệ, đã ngày càng ăn sầu vào tiềm thức của nhân dân Việt trong quá trình mấy lịch sử chống ngoại xâm. Một câu nói tương truyền là lời Bà Triệu phát ra trên núi nghĩa nghìn thu còn vang: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang san, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người ta”. Bài thơ của Lý Thường Kiệt từ thể kỷ XI, đã nói lên quyền độc lập thiêng liêng của dân tộc Đại Việt:
“ Nam quốc sơn hà nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,
Như hà nghịch lỗ, lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư ”.
Bài hịch kêu gọi tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn đã rung động lòng quân dân thời Trần:“Từ xưa đến nay, trung thần nghĩa sĩ dâng mình cho nước, đời nào lại không có?... Ta thường đến bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ giận không được xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Tuy trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thân ta bọc trong da ngựa cũng nguyện xin làm... Làm sao bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở nơi cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai”.
Trong Đại Cáo Bình Ngô sau thắng lợi chống xâm lược nhà Minh năm 1427, có viết về tinh thần không đội trời chung với giặc thù như sau:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn dựng nền văn hiến đã lâu,
Cõi bờ sông núi đã riêng,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương.
Tuy mạnh, yếu có lúc khác nhau,
Mà hào kiệt không bao giờ thiếu.
Quân Minh cường bạo thừa dịp hại dân,
Đảng ngụy gian tà, manh tâm bán nước…
Tát cạn nước Đông Hải không rửa sạch tanh hôi,
Chặt hết trúc Nam Sơn khó ghi đày tội ác…
Nghĩ khó đội trời cùng quân địch,
Thề không chung sống với giặc thù”…
Trước khi xuất quân tiêu diệt quân Mãn Thanh xâm lược, Quang Trung đã kêu gọi tướng sĩ “Đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.
Các lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc từ xưa đến nay đều nói lên quyết tâm của nhân dân Việt Nam quyết giữ quyền độc lập của dân tộc và trong hành động thực tế của quá trình lịch sử, biết bao anh hùng đã hy sinh cho Tổ quốc. Lời của Trần Bình Trọng “thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” trong kháng chiến chống Mông -Nguyên năm 1285. Biết bao người Việt Nam sẵn sàng đem hết tài sản và cả tính mạng mình hiến dâng cho Tổ quốc. Không phải bất cứ đâu trên trái đất này, người dân đều sẵn sàng làm thanh dã, phá cửa nhà, phá bỏ các làng mạc, quê hương để đánh giặc thẻ hiện rõ nét nhất trong kháng chiến chống Mông –Nguyên.
Truyền thống anh dũng bất khuất, yêu nước nồng nàn đã cứu dân Âu Lạc (Việt) khỏi bị Hán hóa đã hun đúc tinh thần quyết chiến quyết thắng, đế chế phong kiến Trung Quốc đời Tần, Đường, Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh , quét sạch bóng quân xâm lược ra khỏi nước ta. Truyền thống đó là lời cảnh cáo với mọi kẻ thù muốn xâm lược, bắt dân Việt Nam lệ thuộc, dù chúng mạnh như thế nào đi chăng nữa. Những kẻ còn có ảo tưởng muốn xâm chiếm biên giới, hải đảo, lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam, muốn bắt chúng ta khuất phục trước sức của chúng.
Nhæ Chuí tëch Häö Chê Minh âaî noïi: ‘Dán ta coï mäüt loìng näöng naìn yãu næåïc. Âoï laì mäüt truyãön thäúng quyï baïu cuía ta. Tæì xæa âãún nay, mäùi khi Täø quäúc bë xám làng thç tinh tháön áúy laûi säi näøi, noï kãút thaình mäüt laìn soïng vä cuìng maûnh meî, to låïn, noï læåït qua moüi sæû nguy hiãøm khoï khàn, noï nháúm chçm táút caí luî baïn næåïc vaì luî cæåïp næåïc”.
Thứ hai: tinh thần đoàn kết cả nước chung sức đánh giặc cuía dán täüc ta:
Tổng kết thắng lợi của ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên, Trần Quốc Tuấn nêu lên một nguyên nhân chủ yếu là “bây giờ vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức chiến đấu, nên giặc phải bó tay”! sách An Nam chí lược cũng ghi rằng, đời nhà Trần “toàn dân đánh giặc”. Nhà sử học Phan Huy Chú cũng viết trong tác phẩm của mình “Đời nhà Trần nhân dân ai cũng là binh nên mới phá được giặc dữ làm cho thế nước được mạnh”. Đó là những biểu hiện cụ thể, là những tổng kết và kinh nghiệm lịch sử xuất phát từ những quan điểm chiến lược có ý nghĩa trong hệ thống tri thức quân sự, không chỉ thể hiện ở thời Trần mà cả trong tiến trình lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta.
Mỗi khi có xâm lăng, bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người dân sống trên lãnh thổ này. Ý thức độc lập tự chủ là tư tưởng, tình cảm của dân tộc. Ý thức đó, từ rất sớm đã trở thành mục đích đấu tranh chung của tất cả các tầng lớp, mọi dân tộc trong nước. “Tình làng nghĩa nước”, “nước mất thì nhà tan” là nếp sống, là những suy nghĩ chung. Cho nên, người dân ta từ ngàn xưa đã có ý thức rất sâu rộng, nếu để kẻ thù cướp nước dày xéo quê hương, thì mất cả gia đình, mất cả của cải, mất cả nền văn hóa dân tộc, mất cả lẽ sống và đạo lý làm người. Tất cả nhân dân đều nhận thức rằng: “Quốc gia có ngoại xâm thì toàn dân đều phải có trách nhiệm”. Đó là tình cảm lớn nhất thúc đẩy mỗi người dân yêu nước đứng lên chiến tranh giữ nước với những thử thách gian lao, dân tộc ta ai cũng hiểu rõ giá trị thiêng liêng của độc lập dân tộc, nên đã “dĩ thân tuẫn quốc” (sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc). Sự sống còn của dân tộc đoàn kết toàn dân, thúc đẩy mọi tầng lớp góc sức chiến đấu và chiến thắng quân thù cường bạo.
Ở nước ta, sức mạnh giữ nước không chỉ là sức mạnh của một nhà nước, mà là sức mạnh của cả nước. Tư tưởng chiến lược “cả nước chung lòng, toàn dân đánh giặc” cũng xuất phát từ yêu cầu khách quan của các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc. Đất nước ta đất không rộng, người không đông, nhân tài vật lực của ta có hạn, lực lượng quân đội của ta không nhiều. Trái lại, kẻ thù của dân tộc có đất rộng, người đông, có tiềm lực quân sự và kinh tế mạnh, chúng cậy số đông, trang bị mạnh và có nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh xâm lược. Với điều kiện tương quan lực lượng giữa ta và địch như vậy, nếu dùng lực lượng quân đội đơn thuần thì chắc chắn không thể đánh thắng được. Muốn thắng quân thù to lớn và cường bạo, thì phải dựa vào sức mạnh cả nước, huy động toàn dân đánh giặc.
Trải qua giai đoạn lịch sử cổ trung đại, tổ tiên ta đều nhận thức một các rõ ràng vai trò của toàn dân đánh giặc giữ nước. Quan điểm quốc phú binh cường thì gốc rễ là ở dân thể hiện trong nhiều triều đại. Cho nên, để động viên được sức mạnh tiềm tàng đó, tổ tiên ta đã phải thi hành nhiều chính sách tiến bộ để “an dân”. Lý Thường Kiệt coi “đủ ăn” là nguyện vọng của dân. Trần Quốc Tuấn chủ trương “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”. Buổi đầu đời Lê, triều đình đã ban lệnh “Không được khinh động đến sức dân” và Nguyễn Trãi cho “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Đến thế kỷ thứ XVIII, Nguyễn Huệ đã có nhiều biện pháp để làm nước giàu, quân mạnh, trong đó có chủ trương “làm sao cho dân yên ổn, có ruộng cày...” hoặc “mở mang cửa ải, thông chợ búa, khiến cho các hàng hóa không ứ đọng, làm lợi cho dân”. Các triều đại phong kiến tiến bộ ở nước ta đều chú ý bồi dưỡng, khoan thư sức dân, ra chiếu khuyến nông, chăm lo thủy lợi, có khi giảm miễn tô thuế một phần để mở mang kinh tế, phần nữa để tăng cường khối đoàn kết giữa các dân tộc, giữa triều đình và dân chúng.
Khi quyền lợi của giới quý tộc phong kiến chưa đối lập với quyền lợi của bình dân, khi quyền lợi của giai cấp còn gắn liền với quyền lợi của dân tộc, thì các triều đại phong kiến có khả năng động viên được đông đảo nhân dân tham gia kháng chiến. Vào những thời kỳ đó, những chính sách tiến bộ của nhà nước là một nhân tố để triều đình tập họp toàn dân đánh giặc. Mặt khác, do hoàn cảnh luôn luôn bị kẻ thù hung bạo đe dọa xâm lược, nên các triều đại phong kiến đều chăm lo xây dựng tiềm lực đất nước.
Vì lợi ích của toàn dân Việt Nam mà phải bảo toàn nền độc lập của dân tộc, chủ quyền của đất nước, điều đó đã ăn sâu vào lòng người Việt Nam, trong bất kỳ tầng lớp nào qua các thời đại. Vì toàn dân mà cũng phải do toàn dân làm mới đánh được kẻ thù hung bạo mạnh hơn, cho nên, chính sách đúng đắn của các chính quyền nhà nước qua quá trình lịch sử Việt Nam, đều phải có sức phát huy khối đoạn kết toàn dân, chung sức đánh giặc.
Tư tưởng “Tận dân vi binh” được thực hiện ở các triều đại phong kiến ở nước ta. Tổ chức lực lượng quân sự phải như thế nào để khi cần nhân dân ai cũng có thể là binh. Đó cũng là đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân. Ở thế kỷ thứ X, triều đình Đinh, Lê tổ chức lực lượng theo chế độ “thập đạo quân”. Về danh nghĩa, trong nước có một đạo quân đông đến một triệu người, song trên thực tế đó là chế độ tổ chức quân đội theo “ngạch biên số”. Lúc hòa bình, hầu hết số quân đó ở nhà sản xuất, lúc có chiến tranh, tất cả được huy động vào đội ngũ đã định sẵn. Đó là tiền đề của quốc sách “ngụ binh ư nông” của thời Lý - Trần. Tổ chức lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân, có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ như hiện nay để làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc bắt nguồn từ truyền thống tổ chức ba thứ quân, gồm quân triều đình, quân các lộ và hương quân của tổ tiên từ thời Lý, Trần.
Trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, hình ảnh Trần Quốc Toản bóp nát quả cam vì hận mình còn nhỏ tuổi không được dự bàn kế đánh giặc ở Bình Than còn đậm sâu trong trí óc của người Việt Nam. Già, trẻ, trai, gái cùng đánh giặc là một hiện tượng phổ biến trong lịch sử nước ta. Truyền thống này lại càng được phát huy mạnh mẽ trong thời đại Hồ Chí Minh.
Trong đội ngũ điệp trùng chống xâm lăng có đủ các thành phần dân chúng, các tầng lớp dân tộc từ khắp mọi miền đất nước. Trên chiến trường diệt quân xâm lược Tống cùng với Lý Thường Kiệt, Hoàng Chấn, Chiêu Văn, có cả Tôn Đản, Hoàng Kim Mãn, Thân Cảnh Phúc, là những tộc trưởng của các dân tộc ít người. Trong quân đội thời Trần, bên cạnh những tướng chỉ huy xuất thân từ hàng ngũ quý tộc như Trần Quốc Tuấn, Trần Khánh Dư v.v... còn có những người xuất thân từ tầng lớp bình dân như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng. Người anh hùng “áo vải cờ đào” ở thế kỷ XVIII, được nhiều sĩ phu yêu nước cộng sự nhiệt tình trong kháng chiến. Nhân dân đứng lên tham gia kháng chiến đông đảo, hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp đánh giặc diệt thù “từ việc rèn đúc vũ khí, chuẩn bị chiến thuyền, sửa chữa cầu đường, đóng góp lương thực, vận tải tiếp tế cho quân đội, đến việc cất giấu lương thực, có khi đốt cả lúa má để thóc gạo khỏi lọt vào tay giặc” hoặc chạy vào rừng quyết không hợp tác với giặc, hoặc nhiều hình thức đánh giặc ngay ở các bản làng, thôn ấp, bảo vệ quê hương sứ sở của mình. Toàn dân là lính, cả nước chung sức đánh giặc là nét đặc sắc, một truyền thống lâu đời của dân tộc ta.
Việc Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương để mất nước là mối hận của mỗi một người dân Đại Việt thời bấy giờ. Nhà Hồ có quân đông, có vũ khí tốt và thành lũy kiên cố, nhưng do sai lầm về đường lối chính trị, đã không huy động được sức mạnh chiến đấu của toàn dân và do không có phương pháp đánh địch thích hợp, nên đã chịu thất bại cay đắng, để rồi dân tộc ta phải tiến hành cuộc kháng chiến kéo dài hơn chục năm mới đánh đuổi được giặc Minh, giành lại nền độc lập.
Thứ ba: Nghệ thuật quân sự độc đáo
Những chiến công chói lọi trong các cuộc chiến tranh giữ nước, chứng tỏ sức mạnh vật chất và tinh thần, phẩm giá cao quý và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong quá trình đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm, dân tộc ta đã có quyết tâm lớn, có tinh thần yêu nước cao, và có nhiều sáng tạo kiệt xuất trong việc tổ chức lực lượng và nghệ thuật đánh giặc cứu nước.
Nghệ thuật đánh giặc cứu nước truyền thống được tích lũy trong các cuộc chiến tranh giữ nước chống ngoại xâm thời cổ trung đại, mang tính đặc biệt của một dân tộc nhỏ, tiềm lực kinh tế, quân sự đều yếu so với đối phương, nhưng dân tộc đó có tinh thần yêu nước cao, có truyền thống toàn dân quả cảm chống xâm lược, chứ không phải chỉ có quân đội đánh theo kiểu chiến tranh thông thường.
Phương thức tiến hành chiến tranh sáng tạo của nhà Trần đã được thể hiện trong cuộc chiến tranh chống Mông - Nguyên lần thứ ba năm 1288, với những tư tưởng mà Trần Hưng Đạo nêu với vua Trần vào năm 1300 về kế sách giữ nước như sau: Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức; Giặc cậy trường trận, ta cậy đoản binh, dĩ đoản chế trường; tướng và binh một lòng như ruột thịt; khoan thư sức dân, làm kế sâu gốc bền là thượng sách để giữ nước; tránh thế giặc lúc buổi đầu còn mạnh, đánh địch khi tàn lụi lúc buổi chiều.Lấy toàn dân chiến đấu, đoàn kết vua quan, lãnh đạo và quần chúng, quân dân, tướng binh như cha con một nhà làm quyết định chiến thắng.
Trên cơ sở tư tưởng toàn dân chiến đấu mà tổ chức các thứ quân, gồm quân triều đình, quân các vương hầu, trấn giữ các trại ấp và hương binh ở các thôn xã cho nên lực lượng vũ trang lên đến mấy chục vạn. Lực lượng vũ trang ta bố trí khắp nơi trên toàn quốc, giặc đi đến đâu cũng bị đánh. Ta hình thành thế bao vây toàn diện và từng điểm, quân địch càng vào sâu càng mắc kẹt, phải phân tán đối phó khắp nơi.
Địch muốn đánh lớn, tìm quân chủ lực để giáp chiến, tiêu diệt mà không được, lại luôn bị tiêu hao, đánh tỉa, đến lúc mệt mỏi hết lương, tinh thần rã rời bải hoải thì cũng là lúc chủ lực quân thiện chiến của triều đình Trần xuất hiện, đánh những đòn tiêu diệt lớn.
Trần Hưng Đạo đã giải quyết một cách tài tình mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ: giữ đất và tiêu diệt địch. Qua kinh nghiệm 2 lần kháng chiến, vì không muốn địch xâm phạm kinh thành, ta tổ chức phòng ngự chiến lược, nhưng đều không ngăn được địch, và trong lần kháng chiến thứ hai, ta buộc địch rút lui chiến lược, với biết bao tình huống hiểm nghèo. Lần kháng chiến thứ ba, với thế lực đã chuẩn bị sẵn, ta hoàn toàn chủ động, buộc địch phải dàn mỏng lực lượng, từ chủ động chuyển thành bị động, từ tiến công chuyển sang phòng ngự và rút lui, từ mạnh chuyển thành yếu. Đây chính là thời cơ để ta tiến hành phản công chiến lược tiêu diệt địch và giải phóng đất nước. Chỉ có “tránh cái thế hăng hái lúc ban mai” của địch, để địch vào sâu đất nước ta, kéo dài đường tiếp tế, bị quân ta triệt lương, lại gặp lúc dân ta làm thanh dã, lâm vào cảnh thiếu đói, địch mới nhanh chóng rơi vào thế “tàn lụi lúc buổi chiều”. Lợi dụng sở đoản, kiềm chế sở trường của địch là nguyên tắc của nghệ thuật quân sự phép dùng binh của Trần Quốc Tuấn.Rõ ràng “dĩ đoản chế trường” là một sáng tạo độc đáo của ta dừng để chống lại một kẻ địch đông và trang bị mạnh hơn mình.
Nguyên nhân thất bại của nhà Hồ trong cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhà Minh là do không tin vào dân, không được dân ủng hộ, chỉ dựa vào phòng ngự chiến lược thụ động, trên cơ sở cố thủ các quân thành vững chắc, có thành cao hào sâu, quân đông, pháo mạnh để mong đạt mục đích chiến lược là làm đối phương mòn mỏi không thắng nổi mà cầu hòa.Phương thức chiến tranh toàn dân, phòng ngự tích cực, tiến công, phản công kiên quyết, chủ động, chọn địa điểm xây dựng thế trận có lợi để phát huy sở trường của ta, đánh vào sở đoản của địch, hạn chế sở trường của chúng, giành chiến thắng vẻ vang trong truyền thống đánh giặc giữ nước của tổ tiên ta đã không được phát huy, mà còn bị quên lãng.
Quang Trung tiêu diệt quân xâm lược Thanh chỉ trong một trận tiến công quyết chiến chiến lược thần tốc bảy ngày đêm ngay tại Thăng Long đã thể hiện sức mạnh hơn đối phương của một quân đội thiện chiến và tài thao lược hơn người của Nguyễn Huệ. Phương thức tiến công chiến lược thần tốc, bất ngờ, giải quyết chiến tranh chỉ trong một trận khi chống lại quân xâm lược của một nước lớn mạnh hơn, đã tỏ ra phù hợp vì trên chiến trường có sức mạnh tổng hợp của thế, thời. Dù lực ít hơn, nhưng tinh hơn và lại có tướng giỏi trí dũng song toàn thì vẫn giành chiến thắng. Quan điểm quân sự của Quang Trung “quân cốt tinh, không cốt đông” thể hiện tính chân lý của nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn là truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Như vậy ta có thể thấy các cuộc chiến tranh giữ nước có lấy đặc điểm sau:
Một là: Địch thường mạnh hơn ta cả về tiềm lực chiến tranh và về lực lượng quân sự huy động vào chiến đấu trực tiếp trên chiến trường. Chúng tiến công từ ngoài vào đất nước ta bằng nhiều hướng, đường bộ, đường thủy, cả phía Bắc, có khi cả phía Nam. Mục đích của địch thường là, tiến công nhanh, giải quyết nhanh chiến tranh bằng các thủ đoạn chiến lược cổ truyền của quân xâm lược là tiêu diệt quân đội đối phương, đánh chiếm thủ đô, bắt thủ lĩnh (vua, lãnh đạo), tổ chức ngụy quân, ngụy quyền, thực hiện bình định, càn quét đánh phá các phong trào yêu nước, dập tắt các cuộc khởi nghĩa.
Hai là: Thời gian kết thúc chiến tranh thường ngắn, chỉ trong vài tháng đến một năm, ít khi kéo dài, như Lý chống Tống, khoảng 5 tháng; Trần chống Mông - Nguyên lâu nhất cũng chỉ 6 tháng; Hồ chống Minh, khoảng 2 tháng; Tây Sơn chống Thanh, hơn 1 tháng.
Ba là: Phương thức tiến hành chiến tranh truyền thống của Việt Nam nói chung thể hiện mấy điểm sau:
- Toàn dân tham gia chống xâm lược, làm thanh dã, không cho địch lấy người và của cải của ta; trực tiếp chiến đấu vũ trang bằng ba thứ quân, quân chủ lực (triều đình), quân địa phương (của các tộc trưởng, vương hầu, các lộ) và dân quân (hương binh), đánh chặn phía trước, đánh phá phía sau, đánh vào hậu cần, hậu phương của địch.
- Kết hợp chiến tranh chính quy của quân đội chủ lực với chiến tranh du kích của toàn dân, lấy dân quân (hương quân), quân địa phương làm nòng cốt, vừa có phân tuyến, vừa có xen kẽ cài răng lược, buộc địch phải phân tán lực lượng, đối phó khắp nơi, không thể tập trung đánh quân chủ lực của ta.
- Phương thức tác chiến thường là phòng ngự tích cực kết hợp phòng ngự theo kiểu phòng tuyến hoặc hệ thống quân thành, quan ải, đánh giữ các trục đường giao thông chiến lược với tiến công phía sau lưng địch của bộ đội địa phương, quân các lộ, cả dân quân các làng xã và phản công, tiến công quyết định của quân chủ lực. Đánh diệt quân lương của địch là biện pháp chiến lược, kết hợp với thanh dã làm cho quân địch đông lại thêm khó khăn vì thiếu hậu cần tiếp tế, lương thực và đạn dược, nhiên liệu, phương tiện chiến tranh.
- Bảo toàn chủ lực, bảo vệ cơ quan lãnh đạo chiến tranh, tránh sức mạnh lúc khởi đầu của địch làm địch mệt mỏi, bị tiêu hao, phân tán, buộc phải chuyển từ chủ động tiến công sang bị động phòng ngự, rồi rút chạy. Trên cơ sở đó mà tiến hành phản công, tiến công tiêu diệt lực lượng chủ lực của địch.
- Kết hợp tiến công tiêu diệt địch trên đất nước mình với ngoại giao mềm dẻo để kết thúc chiến tranh.
- Trong điều kiện địch quá mạnh, ta không đủ sức phòng ngự ngăn chặn đối phương, có khi phải dùng chiến tranh du kích lâu dài như cuộc chiến tranh chống Tần thế kỷ thứ ba trước công nguyên, rồi tổng tiến công kết hợp khởinghĩa (khi có thời cơ địch chiếm đóng bị suy yếu, nội bộ địch ở trong nước rối loạn) mà tiêu diệt.
- Nhưng cũng có khi chỉ bằng một trận tiến công chiến lược tại một khu vực được chuẩn bị kỹ, trên thế mạnh, có địa hình hiểm, có quân đội mạnh, mưu trí, bất ngờ, nhanh chóng tiêu diệt đại bộ phận quân địch ngay từ trận đầu mà ta đã giải quyết thắng lợi chiến tranh.
Như vậy phương châm tích cực phòng ngự, kết hợp phòng ngự với phản công tiến công trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là một tư tưởng có tính quy luật trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của một nước nhỏ đánh lại nước lớn xâm lược, của một quân đội ít hơn và kém hơn về tổ chức trang bị, kỹ thuật đánh lại một quân đội mạnh hơn.
- Chiến tranh giải phóng dân tộc diễn ra khi địch đã chiếm đóng nước ta. Đặc điểm của chiến tranh giải phóng dân tộc là kẻ địch đã ở trên đất nước ta, có đội quân cướp nước, lại có ngụy quân, ngụy quyền, địch đã làm chủ trên cả nước, còn nhân dân ta thì đang bị kìm kẹp, ta không có sẵn quân đội, không có sẵn lực lượng vũ trang.
Nghệ thuật truyền thống này luôn luôn được quán triệt trong chiến tranh giải phóng, vì ta phải đi từ đấu tranh chính trị lên đấu tranh vũ trang, từ khởi nghĩa lên chiến tranh giải phóng, từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy, luôn kết hợp chiến tranh chính quy với khởi nghĩa và chiến tranh du kích. Các nhà lãnh đạo chiến tranh như Hai Bà Trưng, Lê Lợi,... ngay cả trong chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ bảo vệ nền độc nước ta trong thời đại Hồ Chí Minh đều đi theo quá trình này. Nhưng trong chiến tranh giữ nước bảo vệ Tổ quốc thì kinh nghiệm chiến tranh toàn dân của nhà Trần đã không được vận dụng dưới thời nhà Hồ. Tư tưởng quân sự của chiến tranh thông thường dựa vào quân đội chủ lực, lại chi phối nghệ thuật quân sự. Muốn có nghệ thuật quân sự toàn dân chiến đấu phải có chính nghĩa, phải có dân ủng hộ, quốc gia tinh lực, phải có quân đội có tinh thần yêu nước bảo vệ nhân dân, phải có quan điểm dựa vào dân như Trần Hưng Đạo đã nói: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục - cả nước chung sức”, “... khoan thư sức dân, làm kế sâu gốc bền là thượng sách để giữ nước”.
Trong Bình Ngô đại cáo có câu:
“Thế giặc mạnh, ta yếu mà ta địch nổi,
Quân địch nhiều, ta ít mà ta được luôn.
Cho hay, đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân mà thay cường bạo”.
Nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc tạo ra một tương quan thế lực khác hẳn giữa ta và địch so với nghệ thuật quân sự thông thường. Khi lực lượng ít hơn mà muốn thắng kẻ thù đông hơn thì nghệ thuật quân sự lại càng phải cao hơn. Đó chính là yêu cầu có tính nguyên tắc của nghệ thuật truyền thống quân sự Việt Nam. Đó là nghệ thuật lấy thế ta để phá thế địch, để với một lực lượng ít hơn, tạo ra một sức mạnh chiến đấu lớn hơn địch, giành chiến thắng. Thế - có thế chiến tranh, có thế chiến đấu. Như vậy ta có thể thấy các đặc điểm của các cuộc chiến tranh giữ nước nói trên đã được kế thừa và phát huy trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cứu nước góp phần làm cho những trang sử của lịch sử dân tộc thêm rạng rỡ.
Young be a suu tam va chinh sua
Young be a suu tam va chinh sua
Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013
Bài thơ hài dành cho những người nghiện rượu
Một kẻ nghiện rượu đã mơ trong giấc ngủ của mình bằng câu thơ sau đây >>>hâhhha
Anh chỉ ước một thảo nguyên đầy chó
Một dòng sông đầy rượu pha cồn
Một nông trường trồng toàn sả,ớt
Một lâm trường toàn lá mơ xanh
Để nơi đó tháng ngày anh tu luyện
Xa trần thế quên lãng bóng hình em
Young Be A
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
