Thứ Tư, 8 tháng 5, 2013

Nhận định về Bản tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh soạn thảo năm 1945



Bài làm

       Tháng Tám mùa thu lịch sử năm 1945, toàn thể dân tộc Việt Nam đã quật khởi làm nên cuộc tổng khởi nghĩa thần kì và đã giành được thắng lợi. Ngày mùng 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, truyên bố trước toàn thể quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời.
       Trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh nổi bật tư tưởng cốt lõi là quyền dân tộc và quyền con người của dân tộc, nhân dân ta. Điều đáng chú ý là Hồ Chí Minh kế thừa một cách tinh tế những tư tưởng về quyền dân tộc, quyền con người đã được khẳng định trong lịch sử và phát triển sáng tạo nó trong bản tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
       Mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai văn kiệt nổi tiếng quyền con người, quyền dân tộc kết tinh trong bản Tuyên ngôn độc lập của cách mạng Mỹ năm 1776: “tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
       Kế thừa trí tuệ văn minh nhân loại, mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã khẳng định chân lí vững chắc của thời đại thông qua lời bất hủ Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ và phát triển nó: “suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống quyền sung sướng và quyền tự do”. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1789: “ người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
        Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được…”         
       Đây là đoạn mở đầu Hồ Chí Minh đa đưa ra cơ sở đạo lí và pháp lí của bản Tuyên ngôn độc lập. Có thể thấy Người đã nắm chắc mối quan hệ  mối quan hệ biện chứng giữa quyền con người(nhân quyền) và quyền dân tộc (dân quyền), không có độc lập thì quyền con người cũng không được bảo đảm, vì độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện quyền con người.
       Tiếp theo, Bản Tuyên ngôn đã tố cáo và lên án những tội ác man rợ của thực dân Pháp đối với đồng bào ta về các mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa…, trong đó có tội trong năm năm chúng đã hai lần bán nước ta cho Nhật, từ đó nói rõ cho thế giới và phe đồng minh biết:
       “Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”.
       Trên cơ sở chân lí, chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam, bản Tuyên ngôn khẳng định với thế giới  cơ sở pháp lí về quyền của dân tộc Việt Nam với ba ý cơ bản:
       Thứ nhất: Việt Nam tách ra khỏi sự ràng buộc của kẻ thù: “Lâm thời của chính phủ nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”.
       Thứ hai: Khẳng định lại một lần nữa quyền được hưởng tự do, độc lập của Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do  độc lập”.
       Nếu như các nước Đồng Minh đã công nhận các nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Têhêran và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
       Bằng những lí lẽ sắc bén,lập luận đanh thép và lời văn hùng hồn, bản Tuyên ngôn đã khẳng định lại một lần nữa quyền của dân tộc Việt Nam phải được sống trong độc lập, tự do như bất cứ dân tộc nào khác: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”.
       Thứ ba: Khẳng định quyết tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
       Bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam không chỉ là bản Tuyên ngôn độc lập mà còn là bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước ta phù hợp với yêu cầu lịch sử nhân loại:
       Hồ Chí Minh đã không trực tiếp trích dẫn Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, mà đã có một số sửa đổi để khẳng định cách nhìn của Người. Bản Tuyên ngôn của Mỹ Viết: “...Chúng tôi coi đây là những chân lí hiển nhiên, rằng mọi con người sinh ra đều bình đẳng…”. Nhưng Hồ Chí Minh lại trịnh trọng và đanh thép bắt đầu bản Tuyên ngôn của dân tộc mình bằng: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng”. Đây là một khái niệm mở rộng không chỉ vận dụng cho những con người riêng rẽ với tư cách cá nhân mà mở rộng ra mọi người, “mọi người” ở đây là đồng nghĩa là “đồng bào”, “ nhân dân”, “dân tộc”, tất nhiên bao gồm trong đó cả phụ nữ (ở Mỹ phụ nữ không có quyền bầu cử trước năm 1920). Laly Borton, nhà hoạt động xã hội, cũng là một nhà văn Mỹ, đã rất tinh tế và sâu sắc khi nhận xét rằng: “ Đây chính là điều các các nhà sử học Mỹ sai lầm ở chỗ nghĩ rằng Hồ Chí Minh đã trực tiếp trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ. Ông không hề trích dẫn, Trái lại, Hồ Chí Minh đã sửa đổi tài liệu đó để khẳng định cách nhìn của ông”…và khẳng định: “Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh từ một nước thuộc địa của Pháp và dưới sự chiếm đóng của Nhật Bản, đã công bố một cách tế nhị nhưng rất dứt khoát về cuộc cách mạng thứ hai. Đó là việc ông sửa đổi chỉ một từ khi ông dịch đoạn trích dẫn mở đầu của Tuyên ngôn “Đó là Hồ Chí Minh đã tuyên bố độc lập cho phụ nữ Việt Nam”.
        Xét trên thực tế lịch sử nước Mỹ sau khi bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 ra đời, và hiến pháp 1787, tất cả mọi người da đen không có quyền gì dù là tối thiểu. Mãi cho đến 1 - 1 – 1863, tổng thống Mỹ Lincon mới tuyên bố xóa bỏ vĩnh viễn chế độ nô lệ. Trong những năm kế tiếp tiểu bang Mitsuri và một số tiểu bang khác đã lần lượt đưa ra đạo luật giải phóng nô lệ. Từ đây, những người da đen mới bắt đầu được tham gia vào cơ quan lập pháp, hành pháp. Trước những đòi hỏi của quần chúng, năm 1868, Quốc hội Mỹ thông qua việc sửa đổi điều 14 của hiếp pháp, quy định quyền bầu cử của người da đen nhưng vẫn trừ người da đỏ. Mãi đến 1870, hiếp pháp Mỹ mới thừa nhận quyền bầu cử của tất cả nam giới không kể màu da; phụ nữ Mỹ lúc bây giờ vẫn không có quyền bầu cử. Sự kì thị chủng tộc vẫn chế ngự trong đời sống xã hội ở nhiều nơi trên nước Mỹ “tiến bộ” và “văn minh”. Phải mất 51 năm sau vào năm, vào năm 1921 thì tất cả phụ nữ Mỹ mới có quyền bầu cử.
       Việc sửa lại đoạn trích của Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ để vận dụng trong Tuyên ngôn của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa càng tạo ra sự tương phản, sức tố cáo đối vói giai cấp thống trị. Hơn nữa nó còn thể hiện sự sáng tạo của Hồ Chí Minh về quyền con nguời với bản tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên của nhân loại. Thông qua đó Hồ Chí Minh đã thông báo được cho nhân dân Việt Nam và thế giới một cuộc cách mạng thứ hai. Cuộc cách mạng đó dành cho tất cả mọi người, không phân biệt nam nữ, không phân biệt đẳng cấp, tôn giáo và chủng tộc…
       Quyền tự do, bình đẳng, quyền tự quyết thể hiện một đòi hỏi, một nhu cầu cấp bách và tất yếu của mọi thời đại. Thực tế lịch sử nhân loại lúc bấy giờ do sự lớn mạnh và thống trị của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, chỉ có một số dân tộc, một số người hoặc trong một cái gọi là “ dân tộc thượng đẳng” mới có quyền tự do và bình đẳng. Còn lại hành tỷ người ở hàng chục, hàng trăm dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ – La tinh đang phải chịu sự bất bình đẳng về nhân quyền và quyền dân tộc độc lập. Trong Tuyên ngôn của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hồ Chí Minh khẳng định quyền dân tộc cơ bản không chỉ riêng đối với dân tộc Việt Nam mà kế thừa và phát triển những luận điểm chính nghĩa là tiến bộ trên mỗi chặng đường phát triển của lịch sử loài người, Tuyên ngôn độc lập thời đại Hồ Chí Minh còn mở rộng ra cho nhân dân toàn thế giới (đặc biệt là các dân tộc thuộc địa, cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đứng lên giành quyền dân tộc cơ bản cho dân tộc mình): “Suy rộng ra…Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sung sướng và quyền tự do”, để rồi khẳng định: “Đó là những lí lẽ không ai chối cãi được”.
       Có thể nói, với cách phát triển độc đáo, Hồ Chí Minh đã đặt một dấu gạch dấu nối tự nhiên, hết sức logic giữa quyền của mỗi con người với quyền của mỗi dân tộc. Quyền của mỗi con người là lẽ tự nhiên thì quyền của mỗi dân tộc, các dân tộc trên thế giới cũng là lẽ tự nhiên mà tạo hóa mang lại.
       Các cuộc cách mạng tư sản ở Mỹ và châu Âu thế kỉ XVIII đã phá bỏ xiềng xích phong kiến trung cổ, khẳng định trên văn bản quyền dân tộc và quyền sống của con người. Điều ấy nói lên một bước tiến vượt bậc của văn minh nhân loại. Bởi vậy về phương diện nào đó thì việc mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, Hồ Chí Minh trích dẫn Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp còn góp phần khẳng định ý nghĩa thời đại trong cuộc đấu tranh vì quyền con người, quyền dân tộc trong thực tiễn. Do đó, giá trị và ý nghĩa của một bản Tuyên ngôn độc lập là sức sống mạnh liệt cho nó tồn tại trong mọi thời đại. Hồ Chí Minh không những đã kế thừa tư tưởng quyền con người và quyền dân tộc mà nhân loại đã sản sinh ra, và quan trọng hơn, trong bản Tuyên ngôn độc lập, Người đã có những luận điểm phát triển, những cống hiến lớn lao về tư tưởng quyền con người và quyên dân tộc cho văn minh nhân loại.
       …Dân tộc không độc lập thì cũng chẳng có quyền con người. Trong các nước thuộc địa tình trạng này quá rõ. Và những nguyên tắc mà Hồ Chí minh nêu lên thì đã được xác nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và trong Tuyên ngôn về các quyền con người được Liên Hợp quốc thông qua năm 1948. Sự đóng góp bản Tuyên ngôn độc lâp 2-9-1945 của Việt Nam vào lí luận quyền con người gắn với quyền dân tộc là rất quan trọng.   Bản tuyên ngôn Tuyên ngôn về các quyền con người được Liên Hợp quốc thông qua năm 1948là thỏa thuận pháp lí đầu tiên về quyền con người, được các quốc gia cùng nhau xây dựng, dựa trên phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và bất di bất dịch của mọi thành viên trong gia đình nhân loại, là nền tảng tự do, công lí và hòa bình thế giới. Bản Tuyên ngôn thừa nhận chính: “sự coi thường và xâm phạm các quyền con người dẫn đến hành vi man rợ xúc phạm tới nhân tâm nhân loại, và việc xuất hiện một thế giới trong đó con người được hưởng quyền tự do ngôn luậ, tự do tín ngưỡng và tự do thoát khởi nỗi sỡ hãi vì đói nghèo đã được tuyên bố như là khát vọng cao nhất của loài người”(các văn kiệt quốc tế về quyền con người, NXB, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.62). Với 30 điều khoảng, Tuyên ngôn thừa nhận tính toàn diện của các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của cá nhân; quyền của trẻ em, quyền của phụ nữ, và khẳng định quyền con người thuộc về tất cả mọi người; công nhận việc thực hiện nhân quyền là mục tiêu chung của cả nhân loại. Sự ra đời của tuyên ngôn chính thức xác lập chuẩn mực tối thiểu và chung nhất về nguyên tắc mang giá trị phổ biến của quyền con người.
       Tiếp đó là hai công ước (công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội văn hóa) được Đại hội đồng liên hợp quốc thông qua ngày 22 - 6 -  1966 và chính thức có hiệu lực từ 1976. Việc thông nqua tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và hai công ước quốc tế năm 1966 có ý nghĩa quan trọng vì tạo được hệ thống các nguyên tắc, quy phạm, chuẩn mực quốc tế về quyền con người, và là cơ sở để hình thành các chuẩn mực quốc tế về quyền con người trong từng lĩnh vực cụ thể. Hiện nay, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, 2 công ước quốc tế 1966 và 2 nghị định thư bổ sung Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị được công đồng quốc tế thừa nhận là Bộ luật quốc tế về quyền con người.
       Trên cơ sở Bản Tuyên ngôn độc lập về nhân quyền và dân quyền. Sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam đã trở thành thành viên của Liên hợp quốc (1977) và đã tham gia nhiều công ước quốc tế về quyền con người, tích cực đóng góp vào các hoạt động bảo vệ nhân quyền quốc tế. Việt Nam đã tham gia hầu hết các điều ước quốc tế chính về nhân quyền do Liên hợp quốc ban hành. Tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam ý thức sâu sắc  đó là sự cam kết chính tri – pháp lí của nhà nước trong sự nghiệp bảo vệ nhân quyền trước cộng đồng thế giới.
       Điều đó có thể thể giá trị thực tiễn của Tuyên nôn độc lập không chỉ có ý nghĩa thực ở thời điểm nó ra đời mà còn ở hiện tại và tương lai, phù hợp với Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc về quyền cong người và các công ước, nghị định thư bổ sung đã ban hành để tbảo vệ những quyền cơ bản này…
       Vào giai đoạn cuối của chiến tranh tế giới thứ hai, một hội nghị quốc tế lớn đã được tiến hành tại San Francisco (Mỹ) ( 25 – 4 – 1945) với sự tham gia của đại diện 50 quốc gia của khối đồng minh chống phát xít là để soạn thảo, thông qua bản Hiến chương và tuyên bố thành lập Liên hiệp quốc. Liên hợp quốc ra đời là nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới. Một tư tưởng căn bản trong Hiến chương, một trong năm nguyên tắc hoạt động của Liên hợp quốc là tôn trọng chủ quyền, bình đẳng và quyền tự quyết của các không phân biệt lớn nhỏ.
       Như thế, Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh đã khẳng định trong nó những tư tưởng cao cả, những giá trị văn minh của loài người Qua bản tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ và tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp; khẳng định quyền độc lập dân tộc và tự do của dân tộc ta là phù hợp với sự thừa nhận chung của cộng đồng quốc tế qua các văn liệt của hai hội nghị Teheran (triệu tập họp từ 28 - 11 đến 1- 12 – 1943 nhằm đẩy mạnh việc phối hợp tác chiến giữ ba cường quốc: Liên Xô, Mỹ, Anh và bắt đầu thảo luận việc tổ chức lại thế giới sau chiến tranh). Hội nghị đã ra tuyên bố ba cường quốc: “Chúng tôi chờ đợi một cách tin tưởng vào ngày mà tất cả các dân tộc thế giới sẽ được sống tự do, không phải chịu đựng những hành động bạo tàn, phù hợp với những ước vọng và lương tri của mình”) và San Fracisco. Tuyên ngôn vừa mạng tính lịch sử sâu sắc lại vừa theo sát, cập nhật với những dữ kiện mới nhất của nền chính trị thế giới đương thời.
       Mang tính cách mạng, tính khoa học và tính lịch sử sâu sắc, Tuyên ngôn độc lập đã góp phần tích cực đặt nền tảng cho một trật tự pháp lí mới. Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển luật pháp quốc tế đã lên án và đặt chế độ thuộc địa ra ngoài vòng pháp luật, ngay tại diễn đàn Liên hiệp quốc. Một phần tư thế kỉ sau khi bản Tuên ngôn Độc lập của Việt Nam ra đời, nghị quyết ngày 12 - 12 – 1970 của đại hộ đông Liên hợp quốc về chương trình hành động nhằm thi hành toàn diện bản Tuyên ngôn trao trả Độc lập cho các dân tộc thuộc địa ngày 14 - 12 – 1960, theo đó Đại hội đồng Liên hợp quốc, với không một phiếu chống đối nào, đã trịnh trọng tuyên bố: “Khẩn thiết chấm dứt một cách mau chóng và vô điều kiện, chế độ thuộc địa dưới mọi hình thức và mọi biểu hiện”. Đó là sự chiến thắng của ngọn cờ Hồ Chí Minh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc xâm lược và áp bức, bóc lột trên đất nước Việt Nam, đã trở thành ngọn cờ chiến đấu chung của nhân loại tiến bộ, cho chính nghĩa văn minh, vì hòa bình độc lập dân tộc,dân chủ và tiến bộ xã hội.
       Cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh là người đã gắn với hai khái niệm quyền dân tộc thiêng liêng và quyền cơ bản con người lại với nhau. Cùng với thắng lợi thực tiễn của nhân dân Việt Nam, hai khái niệm pháp lí trên đã được phát triển lên thành khái niệm mới gọi là quyền dân tộc cơ bản. Quyền dân tộc cơ bản này gồm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vện lãnh thổ đã trở thành phạm trù của luật pháp quốc tế hiện đại.
       Liên hệ thực tiễn:
       Rõ ràng là với thực tiễn đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc chống đế quốc vô cùng phong phú cảu nhân dân  Việt Nam, phâp lí quốc tế hiện đại đã tiến lên những bước phát triển mới. Chẳng hạn, Nghị quyết ngày 14 - 12 – 1974 của Đại hhoi đồng Liên hợp quốc về định nghĩa xâm lược kết tội các cuộc xâm lược là tội ác nghiêm trọng chống chống loài người. Không phải ngâu nhiên mà Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam 1973 đã long trọng đặt lên vị trí hàng đầu trong chương I về các quyền cơ bản của nhân dân Việt Nam, với điều I duy nhất ghi nhận: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như hiệp định Giơnévơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận”. Cũng với tinh thần ấy, nhân dân Việt Nam quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời. Tổ quốc Việt Nam là thiên liêng bất khả xâm phạm (Điều 1 và Điều 13 Hiếp pháp 1992).
       Trong thời đại ngày nay, bảo vệ quyền con người gắn với các mục tiêu lớn của loài người: hòa bình an ninh quốc tế, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Quyền con người không tự nó đến mà phải trải qua đấu tranh kiên cường, bền bỉ mới có được. Đối với dân tộc không có chủ quyền thì không thể có con người tự do. Làm chủ vận mệnh của mìn, nhân dân phải tự xây dựng lấy hạnh phúc của mình. Các quyền của cá nhân con người gắn liền với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, những điều kiện đảm bảo cho các quyền đó được thực hiện. Nhân dân phải tự ý thức tự mình tạo ra những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội để các quyền đó ngày càng được củng cố và phát triển, kết hợp một cách hài hòa những yêu cầu của cuộc sống xã hội với tự do chân chính của bản thân, trong khuôn khổ nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.
       Kết luận:
       Thông qua nội dung vừa phân tích trên có thể thấy, Bản tuyên ngôn độc lập đã trực tiếp khẳng định với thế giới về các quyền cơ bản mà nhân dân Việt Nam vừa giành được (9 - 1945). Xét về nội dung, tính chất và thời điểm ra đời, bản Tuyên ngôn không phải là một sự kiện riêng lẻ, cá biệt mà là một xu thế tất yếu của thời đại. Nó không chỉ là bản Tuyên ngôn độc lập mà còn là bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Việt Nam phù hợp với Hiến chương liên hợp quốc về nhân quyền và dân quyền. Đồng thời, Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam còn đi trước cả hiến chương Liên hợp quốc và góp phần tích cực đặt nền tảng cho một trật tự pháp lí mới. Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển luật pháp quốc tế đã lên án và đặt chế độ thuộc địa ra ngoài vòng pháp luật, ngay tại diễn đàn Liên hiệp quốc.
       Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh đã tạo nên sưc sống mãnh liệt cho Tuyên Ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, làm cho bản Tuyên ngôn độc lập không chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc Việt Nam mà có ý nghĩa phổ quát toàn nhân loại, phù hợp với yêu cầu lịch sử của nhân loại.
       Điều này còn thể hiện tầm nhìn sâu xa về xu thế phát triển của thời đại, của con người có tầm nhìn Lê-nin nít, đó là Hồ Chí Minh.

Young Be A :



Simon Bolivar-Anh hùng giải phóng dân tộc châu Mỹ-La Tinh



    Nói đến lịch sử Mỹ Latinh, người ta không thể không nhắc đến người anh hùng giải phóng Simon Bolivar, người khởi xướng và lãnh đạo thành công phong trào giành độc lập ở Nam Mỹ đầu thế kỷ 19. Dưới chân ngọn núi cao nhất của Venezuela ngày nay có một tấm biển ghi dòng chữ: "Người Giải phóng, đỉnh núi cao nhất của dãy Andez vẫn còn nhỏ bé so với chiến công của Người".
 chân dung Simon Bolivar

   Simón Bolívar sinh ngày 24 tháng 7 năm 1783 tại Caracas, Venezuela trong một gia đình quý tộc có nguồn gốc từ xứ Basque, Tây Ban Nha. Cha ông, đại tá Juan Vicente Bolívar y Ponte có dòng máu xa của vua xứ Castile Fernando III và bá tước vùng Savoy Amedeo IV, mẹ là bà María de la Concepción Palacios Blanco Simón. Dòng họ Bolivar định cư ở Venezuela từ thế kỷ XVI và việc sở hữu những mỏ vàng, mỏ đồng bên sông Aroa đã góp phần làm họ trở nên giàu có. Sau này, trong cuộc đời cách mạng của mình, Simón Bolívar đã dùng một phần thu nhập từ những mỏ vàng và đồng để tài trợ cho Những cuộc chiến tranh cách mạng Nam Mỹ. Bolívar mồ côi cha năm 3 tuổi (1786), mẹ ông vừa cai quản gia đình vừa đảm nhiệm việc giáo dục các con nhỏ. Năm 1792, khi Bolívar 9 tuổi, mẹ cũng mất, ông và người em trai được ông ngoại nuôi và dạy học. Sau khi ông ngoại mất, anh em Bolívar ở với chú, năm 12 tuổi, ông trốn đến nương nhờ nhà vợ chồng người chị María Antonia.
   Trong thời gian ở nhà người chị, ông được Simón Rodríguez (1769 - 1854), một hiệu trưởng trường tiểu học ở Caracas dạy dỗ. Giữa ông và người thầy nhân hậu đồng thời cũng là nhà nghiên cứu khoa học nhân văn, nhà cải cách xã hội này đã nảy sinh một mối quan hệ tốt đẹp và tồn tại suốt cuộc đời Bolívar vì ngoài kiến thức, giữa họ còn có sự đồng cảm sâu sắc. Sau đó, ông cũng đã từng theo học Andrés Bello (1781 - 1865), nhà nghiên cứu khoa học nhân văn, nhà lập pháp, nhà triết học, nhà giáo dục người Venezuela. Hai ông thầy nổi tiếng này đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến Simón Bolívar. Năm 14 tuổi, ông gia nhập tiểu đoàn du kích ở thung lũng Aragua, nơi gia đình ông có nhiều tài sản và cha ông đã từng làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này. Trong vòng một năm, ông được phong quân hàm thiếu uý và vừa luyện tập quân sự vừa học các môn cơ bản thời bấy giờ như toán học, vật lý, đồ bản,... tại trường học của dòng họ do một cha cố dòng tu Francis dạy.
   Năm 1799, Bolívar sang Madrid, Tây Ban Nha, ông miệt mài nghiên cứu lịch sử, văn học cổ điển và đương đại, toán học rồi bắt đầu học tập bằng tiếng Pháp. Ngoài ra ông còn học khiêu vũ và hùng biện. Bolívar nhanh chóng tiến bộ trong tất cả các môn học và qua các buổi khiêu vũ, ông làm giàu ngoại ngữ đồng thời trở nên tinh tế, tự tin trong giao tiếp. Ngày 26 tháng 5 năm 1802, Bolívar kết hôn với bà María Teresa Rodríguez del Toro y Alaysa rồi cả hai trở về Venezuela. Nhưng không lâu sau đó, tháng 1 năm 1803, María Teresa chết do nhiễm bệnh sốt vàng da. Cuối năm 1803, ông trở lại châu Âu, đi lại giữa Cadiz  và Madrid rồi sang Paris năm 1804.Năm 1807 , sau nhiều năm sống và học tập ở châu Âu , Bolivar trở về quê hương để dấn thân vào cuộc đấu tranh chống lại thực dân Tây Ban Nha.
II. Hoạt động cách mạng và đóng góp của Símon Bolivar trong sự nghiệp giải phóng Nam Mỹ.
II.1 Quá  trình hoạt động cách mạng của Bolivar.
II.1.1 Thời kì ở Vênezuela.
    Đã từng hai lần đến và sống ở châu Âu, Bôlivar chịu ảnh hưởng những tư tưởng tiến bộ của thời đại mới ở nơi đây, ông luôn nung nấu một ý tưởng là mọi người phải được tự do và bình đẳng, mong ước giải phóng đất nước Venezuala khỏi ách thống trị của thực đân Tây Ban Nha nên ngay khi về nước vào năm 1807, ông đẫ lập tức đấn thân vào cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc. Ở quê nhà, ông cùng với em trai và những người bạn gần gũi suy tính, bàn bạc về quá trình giành độc lập cho Venezuala. Lúc này Joseph Bonapart  được Napoleon lập làm vua Tây Ban Nha và những thuộc địa.
    Năm 1808, Bolívar tham gia "quân đội kháng chiến" ở Nam Mỹ. Đầu năm 1810, ông phát động một cuộc khởi nghĩa trong tầng lớp dân chung ở Thành phố Caracas và giành được thắng lợi. Ngày 19-4-1810, quân đội kháng chiến Caracas  tuyên bố độc lập, chính phủ quân sự cử Bolívar đi làm đại diện tại Anh, cùng đi có Luis López Méndez và Andrés Bello. Đây là chuyến sang châu Âu lần thứ  ba của ông với  mục đích tìm kiếm sự viện trợ của nước Anh nhưng chính phủ Anh  chỉ hứa  giữ thái độ trung lập. Ông trở về nước cuối năm 1810. Trở lại vị trí của mình trong Hội những người yêu nước Caracas Bolívar, trở thành một trong những diễn giả nhiệt tình nhất cho độc lập.
  Tháng 7 năm 1811,Venezuala tuyên bố trở thành nước Cộng Hòa (sử sách gọi là nền Cộng hòa thứ I). Bolívar gia nhập quân đội, được phong quân hàm đại tá và tham gia cuộc đột kích Valencia theo lệnh của Miranda năm 1811.
    Năm 1812,ông thất thủ trong trận đánh tại TP Puerto Cabello do có nội phản. Tháng 7 năm 1812, tướng Miranda đầu hàng người Tây Ban Nha. Nến Cộng hòa thứ nhất sụp đổ. Ở thành phố cảng La Guaira. Một nhóm sỹ quan trong đó có Bolívar định bắt giữ Miranda nhưng không thành công. Ông quyết định tự cứu lấy bản thân mình và với sự giúp đỡ của một người bạn, ông có được hộ chiếu để đến Curazao rồi Cartagena de Indias. Ở Cartagena de Indias ông đã viết “Tuyên ngôn Cartagena”, một trong những tác phẩm quan trọng nhất của mình. Trong tác phẩm ông đã rút ra những bài học về sự thất bại của nền Cộng hòa thứ nhất ở Venezuala và vạch ra chiến lược từ Côlômbia đánh về Venezuala để lập lại nền Cộng hòa tại đây. Thông qua đó,  những lý tưởng chính trị đã được định hình và là kim chỉ nam cho những hành động của Bolívar sau này.
     Ông đã nhiều lần chỉ huy đội quân ái quốc  Cartagena đánh bại các cuộc phản kích của đội quân thực dân, vượt dãy Andixơ giải phóng TP biên giới Cuncuta. Ngày 14-5-1813, dẫn đầu một đội quân nhỏ hơn 1000 người, Bolívar vượt sông Magdalena và bắt đầu chiến dịch giải phóng Venezuela.
    Ngày 23-5-1813, Bolívar tiến vào thành phố Méridahttp://vi.wikipedia.org/wiki/Sim%C3%B3n_Bol%C3%ADvar - cite_note-9 và nhân dân ở đây là những người đầu tiên gọi ông là Người Giải phóng, ngày 9 tháng 6, Bolívar chiếm thành phố Trujillo. Ngày 15-6-1813, ông đọc bản mệnh lệnh nổi tiếng "Chiến tranh cho đến chết". Bằng một loạt những trận đánh thông minh, sau 3 tháng, quân đội của Bolívar đã tiến vào Caracas ngày 6-8-1813. Chiến dịch đó sau này được gọi là "Chiến dịch thần diệu".
     Tháng 10-1813, trong một buổi lễ long trọng, chính quyền và nhân dân Caracas đã chính thức tặng cho ông danh hiệu đã đi vào lịch sử "Người Giải phóng". Sau khi tiến vào Caracas, Bolívar tuyên bố thành lập nền Cộng hoà Venezuela thứ hai. Ông được bổ nhiệm làm tổng tư lệnh đội quân ái quốc. Tuy nhiên, vào năm 1814,  tên đầu xỏ thực dân Hôxê  Tômatô Boneixry đã lợi dụng mâu thuẫn giữa những người làm nghề chăn nuôi trên thảo nguyên với bọn địa chủ da trắng để tổ chức thành một đội quân  bảo hoàng. Bolívar tiếp tục tiến hành nhiều trận đánh và mặc dù giành được những thắng lợi quan trọng, ông và tướng Santiago Mariño (người đã giải phóng miền đông Venezuela) chịu thất bại trước đội quân đông đảo hơn gấp nhiều lần của tướng bảo hoàng José Tomás Boves trận đánh La Puerta (tháng 6 năm 1814), nền Cộng hoà thứ hai sụp đổ, những người đòi độc lập buộc phải sơ tán hàng loạt khỏi Caracas về phía đông.
       Cảm thấy quyền lực của mình và tướng Mariño bị thách thức bởi chính những người đồng hành, ông sang Nueva Granada. Tại đây, Bolívar chỉ huy Quân đội quốc gia Colombia tiến vào Bogotá năm 1814 và sau đó dự định đến Cartagena để tìm kiếm sự ủng hộ của người dân địa phương nhằm chiếm thành phố Santa Marta. Tuy nhiên sau những xung đột quân sự và chính trị với chính quyền thành phố Cartagena, tháng 5 năm 1815, Bolívar từ bỏ binh quyền để tránh một cuộc nội chiến.
     Sau khi lánh sang Jamaica, từ tháng 5 đến tháng 12 năm 1815, Bolívar kiên nhẫn chờ đợi thời cơ để tiến hành những cuộc chiến đấu mới. Chính vì thế, ông nghiền ngẫm về số phận của Mỹ Latinh và tháng 9 năm ấy viết “Bức thư Jamaica” nổi tiếng. Trong đó, với nhận thức sâu sắc, ông đánh giá quá khứ- hiện tại và tương lai của lục địa này . Bức thư có thể xem là một bản  cương lĩnh mạnh mẽ về con dường giành độc lập cho các nước Mi latinh và một mô hình chính trị tương lai: mô hình nhsf nước dân chủ- phân quyền theo các nước phương Tây.
    Sự thất bại của Napoleon ở châu Âu và một đội quân Tây Ban Nha hùng mạnh do tướng Pablo Morillo dẫn đầu kéo đến Venezuela đã hâm nóng nhiệt tình của phe bảo hoàng.
    Bolívar, sau khi thoát khỏi một âm mưu ám sát đã đến Haiti nhằm tìm kiếm nguồn tài chính để tiếp tục cuộc chiến đấu, tổng thống Haiti, Alejandro Petion đã cho ông vay tiền. Đội quân viễn chinh do Bolívar dẫn đầu đến đảo Margarita năm 1816 và nhanh chóng đổ bộ vào lục địa. Sau khi tấn công chiếm được Carúpano, ngày 2 tháng 6 năm 1816, Bolívar ra  sắc lệnh giải phóng nô lệ.
    Trong khi đội quân đang tiến về Ocumare de la Costa, thì Bolívar bất ngờ bị tách khỏi bộ phận chủ yếu của quân đội và buộc phải trở lại Haiti. Ông tổ chức một đội quân thứ hai tiến về đến đảo Margarita cuối năm 1816. Đầu năm 1817, Bolívar dự định chiếm vùng Guayana để làm bàn đạp giải phóng hoàn toàn Venezuela và đến tháng 7 năm 1817, ông chiếm được thủ phủ Angostura (ngày nay là Ciudad Bolívar) của vùng này. Bolívar thành lập một nhà nước mới, lập ra bộ máy chính quyền và cho xuất bản một tờ báo.
    Cuộc chiến đấu của ông không những diễn ra đối với quân Tây Ban Nha mà còn đối với những mầm mống vô chính phủ trong vùng. Tháng 10 năm 1817, sau một cuộc diễn tập, tướng Manuel Piar, một trong những lãnh đạo của những người cộng hòa bị xử bắn ở Angostura. Trong thời gian này, Bolívar ra sắc lệnh về Luật phân phối của cải quốc gia.
Năm 1818, ông bất ngờ đột kích quân đội bảo hoàng của tướng Morillo ở thành phố Calabozo  nhưng quân đội Cộng hòa bị đánh bại, Bolívar suýt nữa bị quân đội bảo hoàng giết chết. Ông trở về Angostura ngày 5 tháng 6 năm 1818 và lúc đó, đại diện ngoại giao của Mỹ cùng với một đội quân của những người châu Âu tình nguyện đã tới đây. Bolívar triệu tập Nghị viện Venezuela đệ nhị ở Angostura ngày 15 tháng 2năm 1819 và đọc một bài diễn văn có vai trò quan trọng trong tư tưởng chính trị của ông đồng thời đệ trình dự thảo Hiến pháp.  Đồng thời, ông cũng tuyên bố về sự  thành lập của nền cộng hòa thứ ba ở Venezuala, Bôlivar đã được bầu làm tổng thống.
II.1.2  Sáng lập Đại Colombia
    Năm 1819, Bolívar mở chiến dịch giải phóng Nueva Granada. Quân đội của ông vượt qua dãy Andes, sau những trận đánh ác liệt tại Gameza ngày 12 tháng 7 năm 1819 và Pantano de Vargas ngày 25 tháng 7 năm 1819, Bolívar đã giành chiến thắng quyết định trong trận Boyacá ngày 7 tháng 8năm 1819. Tháng 10-1819, ông tiến vào Bogotá và trao quyền chỉ huy ở Nueva Granada cho tướng Francisco de Paula Santander, Bolívar trở về Angostura. Ở đó, theo đề nghị của ông, tháng 12 năm 1819, Nghị viện đã ban hành Hiến pháp Cộng hoà Colombia. Đất nước vĩ đại do Bolívar sáng lập này gồm các nước cộng hoà Venezuela, Colombia, Ecuador và Panamá.
     Quân đội cộng hoà đã giành được ưu thế ở mọi nơi: Cartagena bị vây hãm, Mérida và Trujillo được giải phóng. Sau cuộc Cách mạng giải phóng nổ ra ở Tây Ban Nha tháng 1 năm 1820, chính phủ mới của Tây Ban Nha cố gắng đạt được một hiệp định hoà bình và ở Trujillo, tháng 11 năm 1820 hai bên đã ký kết một thoả thuận ngừng bắn cùng với bản điều ước về chiến tranh. Sau khi thoả thuận ngừng bắn hết hiệu lực, quân đội cộng hoà bắt đầu hành quân hướng về Caracas.
    Ngày 24 tháng 6 năm 1821, trên bình nguyên Carabobo, Bolívar đã giành thắng lợi trong một trận đánh đánh dấu sự khai sinh ra nền độc lập của Venezuela. Tàn quân của quân đội bảo hoàng lẩn trốn tại Puerto Cabello và cuối cùng tan rã năm 1823. Ngày 29 tháng 6 năm 1821, Bolivar - Người Giải phóng tiến vào thành phố quê hương trong sự chào đón hân hoan của nhân dân.

II.1.3  Giải phóng Ecuador.

    Cùng với việc giải phóng Venezuala, ông cùng đội quân ái quốc còn tiến về giải phóng Êcuador, nơi vẫn còn nằm dưới sự thống trị của người Tây Ban Nha. Ông tiến qua Maracaibo, Cúcuta rồi tiến đến Bogotá.

     Năm 1822, hai cánh quân, mũi phía bắc do Bolívar chỉ huy, mũi phía nam xuất phát từ Guayaquil do tướng Antonio José de Sucre chỉ huy bắt đầu tấn công giải phóng Quito.
 Sau chiến thắng của tướng Sucre của trong trận Pichincha ngày 24 tháng 5 năm 1822, Ecuadro được giải phóng và hợp nhất vào Cộng hoà Đại Colombia. Đến thời điểm này thì đại Colombia đã được giải phóng và được Mĩ công nhận. Như vậy, ngoài Pêru thì lục đại Nam Mĩ về co bản đã được giải phóng.

II.1.4 Giải phóng hoàn toàn Peru.

    Ngày 25 tháng 7 năm 1822, "Người bảo hộ Perú", tướng José de San Martín từ Peru tới Guayaquil. Trong hai ngày 26 và 27, Bolivar đã có ba cuộc hội đàm bí mật với Martin nhưng giữa họ có có chính kiến khác nhau về nhiều vấn đề như: Guayaquil sẽ thuộc về ai, việc bố trí chính thể Pêrru sau cách mạng như thế nào…. Vì vậy, San Martin đã lẳng lặng lên tàu trở về Achentina. Bolívar lĩnh lấy sứ mạng giải phóng hoàn toàn Peru.

    Ngày 7 tháng 8 năm 1823, Bolívar rời Guayaquil đến Callao vào đầu tháng 9 năm đó. Trong tình trạng vô chính phủ, Bolívar đã tổ chức lại quân đội với nòng cốt là những tiểu đoàn của ông.

     Khi Lima rơi vào tay quân bảo hoàng và ngày 10 tháng 2 năm 1824, Nghị viện Peru đã phong Bolívar là Tổng tài với quyền lực tuyệt đối trước khi tự giải tán. Bolívar rút về Trujillo để củng cố và chuyển sang tấn công.

     Ngày tháng 8 năm 1824 ông đã đánh bại quân đội nhà vua tại Junín Chiến dịch tiếp tục phát triển và trong khi Bolívar tiến vào Lima, vây hãm Callao thì tướng Sucre đã tiêu diệt nốt quân đội nhà vua tại Ayacucho ngày 9 tháng 12 năm 1824. Đến đây chiến tranh giành độc lập kết thúc, ngày 10 tháng 2 năm 1825, tại Nghị viện Perú ở Lima, Bolívar tuyên bố từ bỏ quyền lực tuyệt đối đã được trao cho ông để tiến hành chiến tranh giành độc lập.

      Hai ngày sau, Nghị viện Peru đã tuyên bố vinh danh và tặng thưởng cho ông cùng quân đội nhưng ông từ chối tiền thưởng. Bolívar rời thu đô Lima đến Arequipa, El Cuzco và những tỉnh thuộc Thượng Peru (Alto Perú) để quét sạch tàn dư của thực dân Tây Ban Nha. Tháng 8-1825, thượng Peru thành lập nước Cộng hoà Bolívar tức Bolivia ngày nay để tỏ lòng tôn kính đối với ông. 

    Ngày 22-1-1816, liên quân ái quốc  đánh chiếm TP Canlau- cứ điểm cuối cùng của thế lực thực dân Tây Ban Nha. Sự nghiệp vĩ đại do Colombia lành đạo đã giành tháng lợi hoàn toàn.

       

II.1.5   Sự phân hóa Đại Colombia.

    Từ năm 1826 đến hết cuộc đời là khoảng thời gian Bolivar giành nhiều tâm huyết cho việc tạo lập ra một chính thể thống nhất giữa các quốc gia  ở Nam Mĩ mà cụ thể là duy trì và phát triển đại Colombia- đất nước do ông sáng lập.

    Năm 1826, một cuộc nổi dậy gọi là La Cosiata do tướng José Antonio Páez lãnh đạo đã nổ ra để chống lại chính quyền trung ương ở Bogotá.
   Tháng 4 năm 1826, Bolívar trở về Caracas và cố gắng vãn hồi hoà bình. Tuy nhiên những lực lượng ly khai tỏ ra thắng thế trước xu hướng hợp nhất.
Ngày 5 tháng 7 năm 1827, ông rời Caracas đáp tàu đi La Guaira rồi tới Bogotá Ngày 10 tháng 9 năm 1827, ông tuyên thệ nhậm chức tổng thống Cộng hoà Đại Colombia.
    Hội nghị lập pháp họp ở Ocaña tháng 4 năm 1828 đã giải tán mà không đạt được thoả thuận nào giữa những phe đối lập. Bolívar xưng là Tổng tài ngày 27 tháng 8 năm 1828. Ngày 25 tháng 9 năm 1828, ông thoát chết sau một vụ ám sát ở Bogotá với sự giúp đỡ của Manuela Saenz. Không lâu sau, ông buộc phải tiến hành một chiến dịch chống lại những đội quân của Perú đang đe dọa Ecuador. Bất chấp thể trạng ốm yếu, bệnh tật, ông vẫn kiên trì bảo vệ những thành quả của mình.
   Năm 1830, ông trở về Bogotá để thiết lập Hội đồng Hiến pháp nhưng Venezuela một lần nữa công khai đòi trở thành một quốc gia độc lập. Tại Nueva Granada, sự chống đối cũng dần trở nên mạnh mẽ hơn. Bolívar đã suy sụp sức khỏe, ông từ bỏ chức vụ tổng thống . Đại Colombia tan rã. Qúa trình hoạt động cách mạng của Bolivar cũng chấm dứt tại đây.
II.2.  Vai trò của Bolivar đối với khu vực Nam Mĩ.
    Thứ nhất, đối với đất nước Venezala, ông la lãnh tụ kiệt xuất mang lại nền độc lập cho tổ quốc mình. Ngay sau khi đặt chân về nước, ông đã suy tính, bàn bạc và mưu cuộc giải phóng dân tộc. Bằng tài năng của mình, ông đã khôi phục lại nền Cộng hòa của Minranda,  sáng lập nền cộng hòa thứ hai và thứ ba. Năm 1821, sau một thời gian chuẩn bị kĩ lưỡng, Bolivar  dẫn quân trở về  Venezuala và giành thắng lợi quyết định trong chiến dịch Karabobo, đánh dấu sự khai sinh ra nền độc lập của Venezuala. Bolivar trở thành vị anh hùng giải phóng dân tộc.
    Thứ hai, trong quá trình hoạt động cách mạng, Bolivar đã tham gia 472 trận đánh lớn nhỏ, ông từ  “người giải phóng” của dân tộc Venezuala đã trở thành “người giải” phóng cho các dân tộc khác ở khu vực Mĩ Latinh. Tổng kết từ bài học lịch sử. Bolivar nhận thức được rằng vận mệnh Tổ quốc gắn liền với độc lập của khu vực Mĩ Latinh. Để bảo vệ thành quả cách mạng, ông đã dẫn quân từ Venezuala chinh chiến ở miền Bắc Mĩ latinh, đánh đuổi đội quân thực dân và giải phóng các vùng đất ở đó. Sau đó, ông lại đề nghị dẫn quân nam tiến để tấn công tàn dư của thực dân ở đó. Trãi qua nhiều năm chiến đấu gian khổ, bọn tàn quân thực dân Tây Ban Nha cuối cùng đẫ đầu hàng vào năm 1826. Cuộc chiến tranh giành độc lập đấy song gió của Mĩ latinh kết thúc thắng lợi. Thắng lợi của cuộc chiến tranh giành độc lập do ông lãnh đạo đã khiến cho hàng loạt các Mĩ latinh giành được cuộc sống mới, đứng vào hàng ngũ các dân tộc độc lập trên thế giới, đó là: Colombia, Ecuador, Peru, Bolivia. Ngoài sự lãnh đạo về mặt quân sự, ông còn là nhà lãnh đạo về mặt tư tưởng cho phong trào - viết báo, ra báo, phát biểu, viết các bức thư. Ông không mệt mỏi gây các quĩ ủng hộ cho cuộc đấu tranh., góp phần rất lớn vào vào sự thắng lợi của cách mạng.
     Thứ ba, ông là người đa đem tư tưởng tự do, bình đẳng đến khu vực này. Điều đó đã được chứng minh bằng các hành động thiết thực , những chủ trương cải cách tiến bộ như: tuyên bố xóa bỏ chế độ nô lệ đối với người da đen, thủ tiêu chế độ cống nạp đối với người Indian, hoàn thành dự luật về tịch thu ruộng đất cảu bọn địa chủ nhằm đem lại quyền lợi cho nhân dân…. Quan trọng nhất là với  tài năng chính trị kiệt xuất của mình, ông là người đặt nền móng cho chế độ cộng hòa tại khu vực Nam Mĩ – một thể chế dân chủ,  tiến bộ của thời đại lúc bấy giờ.
  Thứ tư, ngoài tư tưởng công bằng, tự do và bình đẳng ở trên,, Bolívar đã để lại cho các dân tộc Mỹ Latinh tư tưởng Liên Mỹ mà đến nay vẫn thường được nhắc tới. Đó là hòa bình trên cơ sở một khối liên kết thống nhất các nước châu Mỹ. Một "Thế giới mới sẽ gồm các quốc gia độc lập gắn chặt với nhau bởi luật pháp chung... Mọi rào cản về xuất xứ, chủng tộc và màu da sẽ biến mất. Trong các thế kỷ tiếp theo, có thể tiến tới một chính phủ hợp nhất toàn thế giới như một liên bang". Ông dành nhiều nhiệt huyết của mình cho việc củng cố và phát triển đất nước đại Colombia- một cụ thể về tư tưởng liên minh các nước Nam Mĩ  trong một chính thể thống nhất của ông. Do khuynh hướng chia tách ở Nam Mĩ lớn hơn nhiều so với các thuộc địa ở Bắc Mĩ, vì thế đại Colombia đã dần tan rã khi Venezuala và Ecuador tuyên bố rút khỏi đại Colombia vào năm 1830. Tuy thất bại nhưng những tư tưởng Liên Mĩ do ông để lại chính là cơ sở, là nguồn cảm hứng cho việc thành lạp một liên minh giữa các nước ở khu vực Nam mĩ hiện nay, bằng chứng đó la sự ra đời và tồn tại của “Liên minh Bolivar vì châu Mĩ” viết tắt là ALBA  hiện nay.  
     Có một điều thú vị khi tìm hiểu về vai trò của Bolivar đối với phong trào cách mạng  Mĩ latinh là ông có rất nhiều điểm giống với Chủ tịch Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ kinh yêu của dân tộc ta. Hai con người ấy, mỗi người một khu vực khác nhau, Bolivar ở Nam Mĩ, còn Hồ Chí Minh ở Đông Nam Á, trong các thời đại khác nhau, nhưng đều được tôn vinh là các lãnh tụ giải phóng của dân tộc mình. Về phương diện tri thức, họ đều được đào tạo từ việc học tập ở các nhà bách khoa và các nhà kinh điển, từ nghệ thuật chiến tranh cho đến những luận đề triết học, tất cả đều giúp cho họ vốn thông tin cơ bản trong lĩnh vực xã hội học chính trị. Những kiến thức ấy cùng với năng lực uyên bác bẩm sinh và lòng yêu nước đã làm cho sự nhạy cảm của họ hướng về sự toàn tâm, toàn ý cho mục đích duy nhất là cứu vãn dân tộc mình khỏi sự áp bức của các thế lực bạo tàn. Simon Bolivar đã chiến đấu hết mình để chống chế độ thực dân Tây Ban Nha, một chế độ đã gây ra bao tổn hại đối với Mỹ Latinh bằng sự cướp bóc và sự tàn bạo chỉ có thể có ở những con người phi nhân tính. Còn Hồ Chí Minh thì đấu tranh chống lại chế độ thực dân Pháp, chế độ đã cướp đoạt của cải, tài nguyên trên lãnh thổ Việt Nam trong gần một trăm năm. Bolivar và Hồ Chí Minh rõ ràng là hai nhà cách mạng mẫu mực. Hai vị lãnh tụ đã từng vượt qua hàng nghìn, hàng vạn dặm đường trong quá trình cách mạng, đã viết rất nhiều trang sách để truyền bá tư tưởng chính trị của mình cho tới khi đạt được mục tiêu giải phóng đất nước. Bolivar và Hồ Chí Minh xứng đáng với sự tôn vinh và lòng ngưỡng mộ của các dân tộc, là hiện thân của những gì tinh túy nhất trong chủ nghĩa nhân đạo cải tạo thế giới mà lý do tồn tại của nó dựa trên những giá trị hình thành quyền con người phổ quát trên thế giới này.
III. Kết luận.

    Sau khi đại Colombia tan rã, Ngày 10 tháng 12, ông đã viết một bản tuyên bố gửi nhân dân, đây được coi là di chúc chính trị của Người Giải phóng. Ông dự định sang châu Âu nhưng đột ngột ra đi ngày 17 tháng 12 năm 1830 tại San Pedro Alejandrino, một khu biệt thự ở Santa Marta vì bệnh lao. Đến năm 1942 trong một nghi thức hết sức trang trọng, thi hài ông được chuyển về Venezuela và đặt tại National Pantheon, Caracas.  Tuy nhiên, hiện nay Chính phủ Vênêxuêla đã công bố những phát hiện mới về cái chết của Nhà giải phóng châu Mỹ Simon Bolivar. Theo đó nguyên nhân trực tiếp khiến ông qua đời không phải do bệnh lao như giả thuyết chính thức trong lịch sử mà do bị hãm hại hay chỉ là vô tình nhiễm một hàm lượng nhỏ ácsen ảnh hưởng đến cơ thể và dẫn đến tử vong.

Ông đã ra đi vĩnh viễn nhưng những công lao, đóng góp của ông đối với các quốc gia Nam Mỹ nói riêng và thế giới nói chung vẫn luôn trường tồn,  mãi mãi là một anh hùng dân tộc đáng kính.
    Bolívar đã giữ một vai trò lớn lao trong lịch sử của cả một lục địa, là nhân vật chính yếu trong cuộc đấu tranh giải phóng của châu Mỹ La tinh khỏi ách thực dân. Ông đã có sự lãnh đạo về mặt tư tưởng cho phong trào - viết báo, ra báo, phát biểu, viết các bức thư. Ông hông mệt mỏi gây các quĩ ủng hộ cho cuộc đấu tranh. Và ông là người lãnh đạo quân sự chính của quân cách mạng
    Simón Bolívar là nhân vật chính trị giữ một vai trò lớn lao trong lịch sử của cả một lục địa. Là một nhà lãnh đạo xuất sắc , một người có lý tưởng và hoài bão lớn lao , trải qua nhiều gian lao vất vả cuối cùng Bolivar đã lãnh đạo nhân dân Nam Mỹ đánh đuổi được thực dân Tây Ban Nha , giành độc lập và tự do cho miền đất này, xứng đáng với danh hiệu “ Người giải phóng “ . Ghi nhận công lao vĩ đại đó, tên tuổi và hình ảnh của ông đã hiện hữu nhiều nơi, từ tranh, tượng, sách vở cho đến những con tem bưu chính không chỉ của các quốc gia Nam Mỹ mà của nhiều quốc gia khác trên thế giới. Thậm chí, UNESCO còn lập ra giải thưởng Simon Bolivar, trao tặng hai năm một lần cho những người có đống góp quan trọng trong việc thực hiện lí tưởng của ông.  Ông là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất đên thế giới thế kỉ XX.


    Nói đến lịch sử Mỹ Latinh, người ta không thể không nhắc đến người anh hùng giải phóng Simon Bolivar, người khởi xướng và lãnh đạo thành công phong trào giành độc lập ở Nam Mỹ đầu thế kỷ 19. Dưới chân ngọn núi cao nhất của Venezuela ngày nay có một tấm biển ghi dòng chữ: "Người Giải phóng, đỉnh núi cao nhất của dãy Andez vẫn còn nhỏ bé so với chiến công của Người".
   Simón Bolívar sinh ngày 24 tháng 7 năm 1783 tại Caracas, Venezuela trong một gia đình quý tộc có nguồn gốc từ xứ Basque, Tây Ban Nha. Cha ông, đại tá Juan Vicente Bolívar y Ponte có dòng máu xa của vua xứ Castile Fernando III và bá tước vùng Savoy Amedeo IV, mẹ là bà María de la Concepción Palacios Blanco Simón. Dòng họ Bolivar định cư ở Venezuela từ thế kỷ XVI và việc sở hữu những mỏ vàng, mỏ đồng bên sông Aroa đã góp phần làm họ trở nên giàu có. Sau này, trong cuộc đời cách mạng của mình, Simón Bolívar đã dùng một phần thu nhập từ những mỏ vàng và đồng để tài trợ cho Những cuộc chiến tranh cách mạng Nam Mỹ. Bolívar mồ côi cha năm 3 tuổi (1786), mẹ ông vừa cai quản gia đình vừa đảm nhiệm việc giáo dục các con nhỏ. Năm 1792, khi Bolívar 9 tuổi, mẹ cũng mất, ông và người em trai được ông ngoại nuôi và dạy học. Sau khi ông ngoại mất, anh em Bolívar ở với chú, năm 12 tuổi, ông trốn đến nương nhờ nhà vợ chồng người chị María Antonia.
   Trong thời gian ở nhà người chị, ông được Simón Rodríguez (1769 - 1854), một hiệu trưởng trường tiểu học ở Caracas dạy dỗ. Giữa ông và người thầy nhân hậu đồng thời cũng là nhà nghiên cứu khoa học nhân văn, nhà cải cách xã hội này đã nảy sinh một mối quan hệ tốt đẹp và tồn tại suốt cuộc đời Bolívar vì ngoài kiến thức, giữa họ còn có sự đồng cảm sâu sắc. Sau đó, ông cũng đã từng theo học Andrés Bello (1781 - 1865), nhà nghiên cứu khoa học nhân văn, nhà lập pháp, nhà triết học, nhà giáo dục người Venezuela. Hai ông thầy nổi tiếng này đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến Simón Bolívar. Năm 14 tuổi, ông gia nhập tiểu đoàn du kích ở thung lũng Aragua, nơi gia đình ông có nhiều tài sản và cha ông đã từng làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này. Trong vòng một năm, ông được phong quân hàm thiếu uý và vừa luyện tập quân sự vừa học các môn cơ bản thời bấy giờ như toán học, vật lý, đồ bản,... tại trường học của dòng họ do một cha cố dòng tu Francis dạy.
   Năm 1799, Bolívar sang Madrid, Tây Ban Nha, ông miệt mài nghiên cứu lịch sử, văn học cổ điển và đương đại, toán học rồi bắt đầu học tập bằng tiếng Pháp. Ngoài ra ông còn học khiêu vũ và hùng biện. Bolívar nhanh chóng tiến bộ trong tất cả các môn học và qua các buổi khiêu vũ, ông làm giàu ngoại ngữ đồng thời trở nên tinh tế, tự tin trong giao tiếp. Ngày 26 tháng 5 năm 1802, Bolívar kết hôn với bà María Teresa Rodríguez del Toro y Alaysa rồi cả hai trở về Venezuela. Nhưng không lâu sau đó, tháng 1 năm 1803, María Teresa chết do nhiễm bệnh sốt vàng da. Cuối năm 1803, ông trở lại châu Âu, đi lại giữa Cadiz  và Madrid rồi sang Paris năm 1804.Năm 1807 , sau nhiều năm sống và học tập ở châu Âu , Bolivar trở về quê hương để dấn thân vào cuộc đấu tranh chống lại thực dân Tây Ban Nha.
II. Hoạt động cách mạng và đóng góp của Símon Bolivar trong sự nghiệp giải phóng Nam Mỹ.
II.1 Quá  trình hoạt động cách mạng của Bolivar.
II.1.1 Thời kì ở Vênezuela.
    Đã từng hai lần đến và sống ở châu Âu, Bôlivar chịu ảnh hưởng những tư tưởng tiến bộ của thời đại mới ở nơi đây, ông luôn nung nấu một ý tưởng là mọi người phải được tự do và bình đẳng, mong ước giải phóng đất nước Venezuala khỏi ách thống trị của thực đân Tây Ban Nha nên ngay khi về nước vào năm 1807, ông đẫ lập tức đấn thân vào cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc. Ở quê nhà, ông cùng với em trai và những người bạn gần gũi suy tính, bàn bạc về quá trình giành độc lập cho Venezuala. Lúc này Joseph Bonapart  được Napoleon lập làm vua Tây Ban Nha và những thuộc địa.
    Năm 1808, Bolívar tham gia "quân đội kháng chiến" ở Nam Mỹ. Đầu năm 1810, ông phát động một cuộc khởi nghĩa trong tầng lớp dân chung ở Thành phố Caracas và giành được thắng lợi. Ngày 19-4-1810, quân đội kháng chiến Caracas  tuyên bố độc lập, chính phủ quân sự cử Bolívar đi làm đại diện tại Anh, cùng đi có Luis López Méndez và Andrés Bello. Đây là chuyến sang châu Âu lần thứ  ba của ông với  mục đích tìm kiếm sự viện trợ của nước Anh nhưng chính phủ Anh  chỉ hứa  giữ thái độ trung lập. Ông trở về nước cuối năm 1810. Trở lại vị trí của mình trong Hội những người yêu nước Caracas Bolívar, trở thành một trong những diễn giả nhiệt tình nhất cho độc lập.
  Tháng 7 năm 1811,Venezuala tuyên bố trở thành nước Cộng Hòa (sử sách gọi là nền Cộng hòa thứ I). Bolívar gia nhập quân đội, được phong quân hàm đại tá và tham gia cuộc đột kích Valencia theo lệnh của Miranda năm 1811.
    Năm 1812,ông thất thủ trong trận đánh tại TP Puerto Cabello do có nội phản. Tháng 7 năm 1812, tướng Miranda đầu hàng người Tây Ban Nha. Nến Cộng hòa thứ nhất sụp đổ. Ở thành phố cảng La Guaira. Một nhóm sỹ quan trong đó có Bolívar định bắt giữ Miranda nhưng không thành công. Ông quyết định tự cứu lấy bản thân mình và với sự giúp đỡ của một người bạn, ông có được hộ chiếu để đến Curazao rồi Cartagena de Indias. Ở Cartagena de Indias ông đã viết “Tuyên ngôn Cartagena”, một trong những tác phẩm quan trọng nhất của mình. Trong tác phẩm ông đã rút ra những bài học về sự thất bại của nền Cộng hòa thứ nhất ở Venezuala và vạch ra chiến lược từ Côlômbia đánh về Venezuala để lập lại nền Cộng hòa tại đây. Thông qua đó,  những lý tưởng chính trị đã được định hình và là kim chỉ nam cho những hành động của Bolívar sau này.
     Ông đã nhiều lần chỉ huy đội quân ái quốc  Cartagena đánh bại các cuộc phản kích của đội quân thực dân, vượt dãy Andixơ giải phóng TP biên giới Cuncuta. Ngày 14-5-1813, dẫn đầu một đội quân nhỏ hơn 1000 người, Bolívar vượt sông Magdalena và bắt đầu chiến dịch giải phóng Venezuela.
    Ngày 23-5-1813, Bolívar tiến vào thành phố Méridahttp://vi.wikipedia.org/wiki/Sim%C3%B3n_Bol%C3%ADvar - cite_note-9 và nhân dân ở đây là những người đầu tiên gọi ông là Người Giải phóng, ngày 9 tháng 6, Bolívar chiếm thành phố Trujillo. Ngày 15-6-1813, ông đọc bản mệnh lệnh nổi tiếng "Chiến tranh cho đến chết". Bằng một loạt những trận đánh thông minh, sau 3 tháng, quân đội của Bolívar đã tiến vào Caracas ngày 6-8-1813. Chiến dịch đó sau này được gọi là "Chiến dịch thần diệu".
     Tháng 10-1813, trong một buổi lễ long trọng, chính quyền và nhân dân Caracas đã chính thức tặng cho ông danh hiệu đã đi vào lịch sử "Người Giải phóng". Sau khi tiến vào Caracas, Bolívar tuyên bố thành lập nền Cộng hoà Venezuela thứ hai. Ông được bổ nhiệm làm tổng tư lệnh đội quân ái quốc. Tuy nhiên, vào năm 1814,  tên đầu xỏ thực dân Hôxê  Tômatô Boneixry đã lợi dụng mâu thuẫn giữa những người làm nghề chăn nuôi trên thảo nguyên với bọn địa chủ da trắng để tổ chức thành một đội quân  bảo hoàng. Bolívar tiếp tục tiến hành nhiều trận đánh và mặc dù giành được những thắng lợi quan trọng, ông và tướng Santiago Mariño (người đã giải phóng miền đông Venezuela) chịu thất bại trước đội quân đông đảo hơn gấp nhiều lần của tướng bảo hoàng José Tomás Boves trận đánh La Puerta (tháng 6 năm 1814), nền Cộng hoà thứ hai sụp đổ, những người đòi độc lập buộc phải sơ tán hàng loạt khỏi Caracas về phía đông.
       Cảm thấy quyền lực của mình và tướng Mariño bị thách thức bởi chính những người đồng hành, ông sang Nueva Granada. Tại đây, Bolívar chỉ huy Quân đội quốc gia Colombia tiến vào Bogotá năm 1814 và sau đó dự định đến Cartagena để tìm kiếm sự ủng hộ của người dân địa phương nhằm chiếm thành phố Santa Marta. Tuy nhiên sau những xung đột quân sự và chính trị với chính quyền thành phố Cartagena, tháng 5 năm 1815, Bolívar từ bỏ binh quyền để tránh một cuộc nội chiến.
     Sau khi lánh sang Jamaica, từ tháng 5 đến tháng 12 năm 1815, Bolívar kiên nhẫn chờ đợi thời cơ để tiến hành những cuộc chiến đấu mới. Chính vì thế, ông nghiền ngẫm về số phận của Mỹ Latinh và tháng 9 năm ấy viết “Bức thư Jamaica” nổi tiếng. Trong đó, với nhận thức sâu sắc, ông đánh giá quá khứ- hiện tại và tương lai của lục địa này . Bức thư có thể xem là một bản  cương lĩnh mạnh mẽ về con dường giành độc lập cho các nước Mi latinh và một mô hình chính trị tương lai: mô hình nhsf nước dân chủ- phân quyền theo các nước phương Tây.
    Sự thất bại của Napoleon ở châu Âu và một đội quân Tây Ban Nha hùng mạnh do tướng Pablo Morillo dẫn đầu kéo đến Venezuela đã hâm nóng nhiệt tình của phe bảo hoàng.
    Bolívar, sau khi thoát khỏi một âm mưu ám sát đã đến Haiti nhằm tìm kiếm nguồn tài chính để tiếp tục cuộc chiến đấu, tổng thống Haiti, Alejandro Petion đã cho ông vay tiền. Đội quân viễn chinh do Bolívar dẫn đầu đến đảo Margarita năm 1816 và nhanh chóng đổ bộ vào lục địa. Sau khi tấn công chiếm được Carúpano, ngày 2 tháng 6 năm 1816, Bolívar ra  sắc lệnh giải phóng nô lệ.
    Trong khi đội quân đang tiến về Ocumare de la Costa, thì Bolívar bất ngờ bị tách khỏi bộ phận chủ yếu của quân đội và buộc phải trở lại Haiti. Ông tổ chức một đội quân thứ hai tiến về đến đảo Margarita cuối năm 1816. Đầu năm 1817, Bolívar dự định chiếm vùng Guayana để làm bàn đạp giải phóng hoàn toàn Venezuela và đến tháng 7 năm 1817, ông chiếm được thủ phủ Angostura (ngày nay là Ciudad Bolívar) của vùng này. Bolívar thành lập một nhà nước mới, lập ra bộ máy chính quyền và cho xuất bản một tờ báo.
    Cuộc chiến đấu của ông không những diễn ra đối với quân Tây Ban Nha mà còn đối với những mầm mống vô chính phủ trong vùng. Tháng 10 năm 1817, sau một cuộc diễn tập, tướng Manuel Piar, một trong những lãnh đạo của những người cộng hòa bị xử bắn ở Angostura. Trong thời gian này, Bolívar ra sắc lệnh về Luật phân phối của cải quốc gia.
Năm 1818, ông bất ngờ đột kích quân đội bảo hoàng của tướng Morillo ở thành phố Calabozo  nhưng quân đội Cộng hòa bị đánh bại, Bolívar suýt nữa bị quân đội bảo hoàng giết chết. Ông trở về Angostura ngày 5 tháng 6 năm 1818 và lúc đó, đại diện ngoại giao của Mỹ cùng với một đội quân của những người châu Âu tình nguyện đã tới đây. Bolívar triệu tập Nghị viện Venezuela đệ nhị ở Angostura ngày 15 tháng 2năm 1819 và đọc một bài diễn văn có vai trò quan trọng trong tư tưởng chính trị của ông đồng thời đệ trình dự thảo Hiến pháp.  Đồng thời, ông cũng tuyên bố về sự  thành lập của nền cộng hòa thứ ba ở Venezuala, Bôlivar đã được bầu làm tổng thống.
II.1.2  Sáng lập Đại Colombia
    Năm 1819, Bolívar mở chiến dịch giải phóng Nueva Granada. Quân đội của ông vượt qua dãy Andes, sau những trận đánh ác liệt tại Gameza ngày 12 tháng 7 năm 1819 và Pantano de Vargas ngày 25 tháng 7 năm 1819, Bolívar đã giành chiến thắng quyết định trong trận Boyacá ngày 7 tháng 8năm 1819. Tháng 10-1819, ông tiến vào Bogotá và trao quyền chỉ huy ở Nueva Granada cho tướng Francisco de Paula Santander, Bolívar trở về Angostura. Ở đó, theo đề nghị của ông, tháng 12 năm 1819, Nghị viện đã ban hành Hiến pháp Cộng hoà Colombia. Đất nước vĩ đại do Bolívar sáng lập này gồm các nước cộng hoà Venezuela, Colombia, Ecuador và Panamá.
     Quân đội cộng hoà đã giành được ưu thế ở mọi nơi: Cartagena bị vây hãm, Mérida và Trujillo được giải phóng. Sau cuộc Cách mạng giải phóng nổ ra ở Tây Ban Nha tháng 1 năm 1820, chính phủ mới của Tây Ban Nha cố gắng đạt được một hiệp định hoà bình và ở Trujillo, tháng 11 năm 1820 hai bên đã ký kết một thoả thuận ngừng bắn cùng với bản điều ước về chiến tranh. Sau khi thoả thuận ngừng bắn hết hiệu lực, quân đội cộng hoà bắt đầu hành quân hướng về Caracas.
    Ngày 24 tháng 6 năm 1821, trên bình nguyên Carabobo, Bolívar đã giành thắng lợi trong một trận đánh đánh dấu sự khai sinh ra nền độc lập của Venezuela. Tàn quân của quân đội bảo hoàng lẩn trốn tại Puerto Cabello và cuối cùng tan rã năm 1823. Ngày 29 tháng 6 năm 1821, Bolivar - Người Giải phóng tiến vào thành phố quê hương trong sự chào đón hân hoan của nhân dân.

II.1.3  Giải phóng Ecuador.

    Cùng với việc giải phóng Venezuala, ông cùng đội quân ái quốc còn tiến về giải phóng Êcuador, nơi vẫn còn nằm dưới sự thống trị của người Tây Ban Nha. Ông tiến qua Maracaibo, Cúcuta rồi tiến đến Bogotá.

     Năm 1822, hai cánh quân, mũi phía bắc do Bolívar chỉ huy, mũi phía nam xuất phát từ Guayaquil do tướng Antonio José de Sucre chỉ huy bắt đầu tấn công giải phóng Quito.
 Sau chiến thắng của tướng Sucre của trong trận Pichincha ngày 24 tháng 5 năm 1822, Ecuadro được giải phóng và hợp nhất vào Cộng hoà Đại Colombia. Đến thời điểm này thì đại Colombia đã được giải phóng và được Mĩ công nhận. Như vậy, ngoài Pêru thì lục đại Nam Mĩ về co bản đã được giải phóng.

II.1.4 Giải phóng hoàn toàn Peru.

    Ngày 25 tháng 7 năm 1822, "Người bảo hộ Perú", tướng José de San Martín từ Peru tới Guayaquil. Trong hai ngày 26 và 27, Bolivar đã có ba cuộc hội đàm bí mật với Martin nhưng giữa họ có có chính kiến khác nhau về nhiều vấn đề như: Guayaquil sẽ thuộc về ai, việc bố trí chính thể Pêrru sau cách mạng như thế nào…. Vì vậy, San Martin đã lẳng lặng lên tàu trở về Achentina. Bolívar lĩnh lấy sứ mạng giải phóng hoàn toàn Peru.

    Ngày 7 tháng 8 năm 1823, Bolívar rời Guayaquil đến Callao vào đầu tháng 9 năm đó. Trong tình trạng vô chính phủ, Bolívar đã tổ chức lại quân đội với nòng cốt là những tiểu đoàn của ông.

     Khi Lima rơi vào tay quân bảo hoàng và ngày 10 tháng 2 năm 1824, Nghị viện Peru đã phong Bolívar là Tổng tài với quyền lực tuyệt đối trước khi tự giải tán. Bolívar rút về Trujillo để củng cố và chuyển sang tấn công.

     Ngày tháng 8 năm 1824 ông đã đánh bại quân đội nhà vua tại Junín Chiến dịch tiếp tục phát triển và trong khi Bolívar tiến vào Lima, vây hãm Callao thì tướng Sucre đã tiêu diệt nốt quân đội nhà vua tại Ayacucho ngày 9 tháng 12 năm 1824. Đến đây chiến tranh giành độc lập kết thúc, ngày 10 tháng 2 năm 1825, tại Nghị viện Perú ở Lima, Bolívar tuyên bố từ bỏ quyền lực tuyệt đối đã được trao cho ông để tiến hành chiến tranh giành độc lập.

      Hai ngày sau, Nghị viện Peru đã tuyên bố vinh danh và tặng thưởng cho ông cùng quân đội nhưng ông từ chối tiền thưởng. Bolívar rời thu đô Lima đến Arequipa, El Cuzco và những tỉnh thuộc Thượng Peru (Alto Perú) để quét sạch tàn dư của thực dân Tây Ban Nha. Tháng 8-1825, thượng Peru thành lập nước Cộng hoà Bolívar tức Bolivia ngày nay để tỏ lòng tôn kính đối với ông. 

    Ngày 22-1-1816, liên quân ái quốc  đánh chiếm TP Canlau- cứ điểm cuối cùng của thế lực thực dân Tây Ban Nha. Sự nghiệp vĩ đại do Colombia lành đạo đã giành tháng lợi hoàn toàn.

       

II.1.5   Sự phân hóa Đại Colombia.

    Từ năm 1826 đến hết cuộc đời là khoảng thời gian Bolivar giành nhiều tâm huyết cho việc tạo lập ra một chính thể thống nhất giữa các quốc gia  ở Nam Mĩ mà cụ thể là duy trì và phát triển đại Colombia- đất nước do ông sáng lập.

    Năm 1826, một cuộc nổi dậy gọi là La Cosiata do tướng José Antonio Páez lãnh đạo đã nổ ra để chống lại chính quyền trung ương ở Bogotá.
   Tháng 4 năm 1826, Bolívar trở về Caracas và cố gắng vãn hồi hoà bình. Tuy nhiên những lực lượng ly khai tỏ ra thắng thế trước xu hướng hợp nhất.
Ngày 5 tháng 7 năm 1827, ông rời Caracas đáp tàu đi La Guaira rồi tới Bogotá Ngày 10 tháng 9 năm 1827, ông tuyên thệ nhậm chức tổng thống Cộng hoà Đại Colombia.
    Hội nghị lập pháp họp ở Ocaña tháng 4 năm 1828 đã giải tán mà không đạt được thoả thuận nào giữa những phe đối lập. Bolívar xưng là Tổng tài ngày 27 tháng 8 năm 1828. Ngày 25 tháng 9 năm 1828, ông thoát chết sau một vụ ám sát ở Bogotá với sự giúp đỡ của Manuela Saenz. Không lâu sau, ông buộc phải tiến hành một chiến dịch chống lại những đội quân của Perú đang đe dọa Ecuador. Bất chấp thể trạng ốm yếu, bệnh tật, ông vẫn kiên trì bảo vệ những thành quả của mình.
   Năm 1830, ông trở về Bogotá để thiết lập Hội đồng Hiến pháp nhưng Venezuela một lần nữa công khai đòi trở thành một quốc gia độc lập. Tại Nueva Granada, sự chống đối cũng dần trở nên mạnh mẽ hơn. Bolívar đã suy sụp sức khỏe, ông từ bỏ chức vụ tổng thống . Đại Colombia tan rã. Qúa trình hoạt động cách mạng của Bolivar cũng chấm dứt tại đây.
II.2.  Vai trò của Bolivar đối với khu vực Nam Mĩ.
    Thứ nhất, đối với đất nước Venezala, ông la lãnh tụ kiệt xuất mang lại nền độc lập cho tổ quốc mình. Ngay sau khi đặt chân về nước, ông đã suy tính, bàn bạc và mưu cuộc giải phóng dân tộc. Bằng tài năng của mình, ông đã khôi phục lại nền Cộng hòa của Minranda,  sáng lập nền cộng hòa thứ hai và thứ ba. Năm 1821, sau một thời gian chuẩn bị kĩ lưỡng, Bolivar  dẫn quân trở về  Venezuala và giành thắng lợi quyết định trong chiến dịch Karabobo, đánh dấu sự khai sinh ra nền độc lập của Venezuala. Bolivar trở thành vị anh hùng giải phóng dân tộc.
    Thứ hai, trong quá trình hoạt động cách mạng, Bolivar đã tham gia 472 trận đánh lớn nhỏ, ông từ  “người giải phóng” của dân tộc Venezuala đã trở thành “người giải” phóng cho các dân tộc khác ở khu vực Mĩ Latinh. Tổng kết từ bài học lịch sử. Bolivar nhận thức được rằng vận mệnh Tổ quốc gắn liền với độc lập của khu vực Mĩ Latinh. Để bảo vệ thành quả cách mạng, ông đã dẫn quân từ Venezuala chinh chiến ở miền Bắc Mĩ latinh, đánh đuổi đội quân thực dân và giải phóng các vùng đất ở đó. Sau đó, ông lại đề nghị dẫn quân nam tiến để tấn công tàn dư của thực dân ở đó. Trãi qua nhiều năm chiến đấu gian khổ, bọn tàn quân thực dân Tây Ban Nha cuối cùng đẫ đầu hàng vào năm 1826. Cuộc chiến tranh giành độc lập đấy song gió của Mĩ latinh kết thúc thắng lợi. Thắng lợi của cuộc chiến tranh giành độc lập do ông lãnh đạo đã khiến cho hàng loạt các Mĩ latinh giành được cuộc sống mới, đứng vào hàng ngũ các dân tộc độc lập trên thế giới, đó là: Colombia, Ecuador, Peru, Bolivia. Ngoài sự lãnh đạo về mặt quân sự, ông còn là nhà lãnh đạo về mặt tư tưởng cho phong trào - viết báo, ra báo, phát biểu, viết các bức thư. Ông không mệt mỏi gây các quĩ ủng hộ cho cuộc đấu tranh., góp phần rất lớn vào vào sự thắng lợi của cách mạng.
     Thứ ba, ông là người đa đem tư tưởng tự do, bình đẳng đến khu vực này. Điều đó đã được chứng minh bằng các hành động thiết thực , những chủ trương cải cách tiến bộ như: tuyên bố xóa bỏ chế độ nô lệ đối với người da đen, thủ tiêu chế độ cống nạp đối với người Indian, hoàn thành dự luật về tịch thu ruộng đất cảu bọn địa chủ nhằm đem lại quyền lợi cho nhân dân…. Quan trọng nhất là với  tài năng chính trị kiệt xuất của mình, ông là người đặt nền móng cho chế độ cộng hòa tại khu vực Nam Mĩ – một thể chế dân chủ,  tiến bộ của thời đại lúc bấy giờ.
  Thứ tư, ngoài tư tưởng công bằng, tự do và bình đẳng ở trên,, Bolívar đã để lại cho các dân tộc Mỹ Latinh tư tưởng Liên Mỹ mà đến nay vẫn thường được nhắc tới. Đó là hòa bình trên cơ sở một khối liên kết thống nhất các nước châu Mỹ. Một "Thế giới mới sẽ gồm các quốc gia độc lập gắn chặt với nhau bởi luật pháp chung... Mọi rào cản về xuất xứ, chủng tộc và màu da sẽ biến mất. Trong các thế kỷ tiếp theo, có thể tiến tới một chính phủ hợp nhất toàn thế giới như một liên bang". Ông dành nhiều nhiệt huyết của mình cho việc củng cố và phát triển đất nước đại Colombia- một cụ thể về tư tưởng liên minh các nước Nam Mĩ  trong một chính thể thống nhất của ông. Do khuynh hướng chia tách ở Nam Mĩ lớn hơn nhiều so với các thuộc địa ở Bắc Mĩ, vì thế đại Colombia đã dần tan rã khi Venezuala và Ecuador tuyên bố rút khỏi đại Colombia vào năm 1830. Tuy thất bại nhưng những tư tưởng Liên Mĩ do ông để lại chính là cơ sở, là nguồn cảm hứng cho việc thành lạp một liên minh giữa các nước ở khu vực Nam mĩ hiện nay, bằng chứng đó la sự ra đời và tồn tại của “Liên minh Bolivar vì châu Mĩ” viết tắt là ALBA  hiện nay.  
     Có một điều thú vị khi tìm hiểu về vai trò của Bolivar đối với phong trào cách mạng  Mĩ latinh là ông có rất nhiều điểm giống với Chủ tịch Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ kinh yêu của dân tộc ta. Hai con người ấy, mỗi người một khu vực khác nhau, Bolivar ở Nam Mĩ, còn Hồ Chí Minh ở Đông Nam Á, trong các thời đại khác nhau, nhưng đều được tôn vinh là các lãnh tụ giải phóng của dân tộc mình. Về phương diện tri thức, họ đều được đào tạo từ việc học tập ở các nhà bách khoa và các nhà kinh điển, từ nghệ thuật chiến tranh cho đến những luận đề triết học, tất cả đều giúp cho họ vốn thông tin cơ bản trong lĩnh vực xã hội học chính trị. Những kiến thức ấy cùng với năng lực uyên bác bẩm sinh và lòng yêu nước đã làm cho sự nhạy cảm của họ hướng về sự toàn tâm, toàn ý cho mục đích duy nhất là cứu vãn dân tộc mình khỏi sự áp bức của các thế lực bạo tàn. Simon Bolivar đã chiến đấu hết mình để chống chế độ thực dân Tây Ban Nha, một chế độ đã gây ra bao tổn hại đối với Mỹ Latinh bằng sự cướp bóc và sự tàn bạo chỉ có thể có ở những con người phi nhân tính. Còn Hồ Chí Minh thì đấu tranh chống lại chế độ thực dân Pháp, chế độ đã cướp đoạt của cải, tài nguyên trên lãnh thổ Việt Nam trong gần một trăm năm. Bolivar và Hồ Chí Minh rõ ràng là hai nhà cách mạng mẫu mực. Hai vị lãnh tụ đã từng vượt qua hàng nghìn, hàng vạn dặm đường trong quá trình cách mạng, đã viết rất nhiều trang sách để truyền bá tư tưởng chính trị của mình cho tới khi đạt được mục tiêu giải phóng đất nước. Bolivar và Hồ Chí Minh xứng đáng với sự tôn vinh và lòng ngưỡng mộ của các dân tộc, là hiện thân của những gì tinh túy nhất trong chủ nghĩa nhân đạo cải tạo thế giới mà lý do tồn tại của nó dựa trên những giá trị hình thành quyền con người phổ quát trên thế giới này.
III. Kết luận.

    Sau khi đại Colombia tan rã, Ngày 10 tháng 12, ông đã viết một bản tuyên bố gửi nhân dân, đây được coi là di chúc chính trị của Người Giải phóng. Ông dự định sang châu Âu nhưng đột ngột ra đi ngày 17 tháng 12 năm 1830 tại San Pedro Alejandrino, một khu biệt thự ở Santa Marta vì bệnh lao. Đến năm 1942 trong một nghi thức hết sức trang trọng, thi hài ông được chuyển về Venezuela và đặt tại National Pantheon, Caracas.  Tuy nhiên, hiện nay Chính phủ Vênêxuêla đã công bố những phát hiện mới về cái chết của Nhà giải phóng châu Mỹ Simon Bolivar. Theo đó nguyên nhân trực tiếp khiến ông qua đời không phải do bệnh lao như giả thuyết chính thức trong lịch sử mà do bị hãm hại hay chỉ là vô tình nhiễm một hàm lượng nhỏ ácsen ảnh hưởng đến cơ thể và dẫn đến tử vong.

Ông đã ra đi vĩnh viễn nhưng những công lao, đóng góp của ông đối với các quốc gia Nam Mỹ nói riêng và thế giới nói chung vẫn luôn trường tồn,  mãi mãi là một anh hùng dân tộc đáng kính.
    Bolívar đã giữ một vai trò lớn lao trong lịch sử của cả một lục địa, là nhân vật chính yếu trong cuộc đấu tranh giải phóng của châu Mỹ La tinh khỏi ách thực dân. Ông đã có sự lãnh đạo về mặt tư tưởng cho phong trào - viết báo, ra báo, phát biểu, viết các bức thư. Ông hông mệt mỏi gây các quĩ ủng hộ cho cuộc đấu tranh. Và ông là người lãnh đạo quân sự chính của quân cách mạng
    Simón Bolívar là nhân vật chính trị giữ một vai trò lớn lao trong lịch sử của cả một lục địa. Là một nhà lãnh đạo xuất sắc , một người có lý tưởng và hoài bão lớn lao , trải qua nhiều gian lao vất vả cuối cùng Bolivar đã lãnh đạo nhân dân Nam Mỹ đánh đuổi được thực dân Tây Ban Nha , giành độc lập và tự do cho miền đất này, xứng đáng với danh hiệu “ Người giải phóng “ . Ghi nhận công lao vĩ đại đó, tên tuổi và hình ảnh của ông đã hiện hữu nhiều nơi, từ tranh, tượng, sách vở cho đến những con tem bưu chính không chỉ của các quốc gia Nam Mỹ mà của nhiều quốc gia khác trên thế giới. Thậm chí, UNESCO còn lập ra giải thưởng Simon Bolivar, trao tặng hai năm một lần cho những người có đống góp quan trọng trong việc thực hiện lí tưởng của ông.  Ông là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất đên thế giới thế kỉ XX. 
Young Be A:
 
Nguồn: Trang trí blog mùa giáng sinh với hiệu ứng tuyết rơi, ông già Noel và giàn chuông cực hot | Sử Minh Thành http://smthanh.blogspot.com/2012/12/trang-tri-blog-mua-giang-sinh-voi-hieu.html#ixzz2RLJerMpo Follow us: @suminhthanh on Twitter | smthanh on Facebook