Phần mềm LIPVistaVN là phần mềm biến ngôn ngữ của hệ Windows Vista từ tiếng Anh thành tiếng Việt hoàn toàn.Cài đặt nó cũng giống như cài đặt Giao diện ngôn ngữ cho windows 7,tức là không cần bỏ đĩa cài windows vào mà vẫn cài đặt bình thường được .Sau khi cài đặt thì khởi động lại để nó có hiệu lực nhé
good luck
link :http://www.mediafire.com/?n1hsg8rvmc8blcr
Young be a chức các bnaj may mắn:
Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2012
Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2012
Bộ cài đặt giao diện ngôn ngữ Tiếng Việt cho Windows 7
Phần mềm LIP_vi-VN là Bộ ngôn ngữ cài đặt giao diện cho Windows 7 (tích hợp cả phiên bản 32 bit và 64 bit) .Khi bạn cài đặt ngôn ngữ này,bạn phải kiểm tra xem win 7 của bạn đang dùng phiên bản 32 hay 64 bit để chọn cho nó đúng khi cài đặt(Bộ ngôn ngữ full dưới đây đã nén săn bản cài 32 và 64 bit rùi)
Cài ngôn ngữ tiếng việt cho win 7 dễ hơn nhiều so với cài ngôn ngữ tiếng việt cho Xp vì khi cài ngôn ngữ việt hóa cho win 7 ta không cần bỏ đĩa cài win.
Sau khi bạn cài xông thì nhớ khởi động lại máy túc thì để khỏi phải bị lỗi nhé
Link:http://www.mediafire.com/?c251dbp1hkr7010
chức thành công: Young be a
Cài ngôn ngữ tiếng việt cho win 7 dễ hơn nhiều so với cài ngôn ngữ tiếng việt cho Xp vì khi cài ngôn ngữ việt hóa cho win 7 ta không cần bỏ đĩa cài win.
Sau khi bạn cài xông thì nhớ khởi động lại máy túc thì để khỏi phải bị lỗi nhé
Link:http://www.mediafire.com/?c251dbp1hkr7010
chức thành công: Young be a
Phần mềm biến Windows XP SP3 & SP2 thành tiếng VIỆT
Phần mềm này sẽ biến Windows Xp sp3 hay sp2 của bạn từ tiếng Anh thành Tiếng Việt hoàn toàn.BẠN CHỈ VIỆC DOWLOAD XONG THÌ GIẢI NÉN RỒI CÀI ĐẶT,BẤM NÉT ,NÉT,ĐẾN ĐOẠN GHI "TỐN ĐĨA" THÌ BẠN CHỌN TỐN ĐĨA,SAU ĐÓ TIẾP TỤC ĐẾN PHẦN NÓ BẮT TA BỎ ĐĨA CÀI ĐẶT WINDOWS XP THÌ TA BỎ VAO VÀ TIẾP TỤC CÀI ĐẶT.KHI CÀI ĐẶT XÔNG THÌ NHỚ KHỞ ĐỘNG LẠI MÁY NGAY NHÉ ĐỂ CÀI ĐẶT NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT CÓ HIỆU LỰC.NẾU BẠN KHỞI ĐỘNG LẠI SAU THÌ NÓ SẼ BỊ LỖI,CÓ CHỔ TIẾNG VIỆT,CÓ CHỖ TIẾNG ANH
Lưu ý: bạn phải cài đặt Windows XP cơ sở thì mới cài đặt được gói dao diện ngôn ngữ này,vì khi cài nó sẽ đòi ta bỏ đĩa chính Win mà ta đang chạy đó thì nó mới chịu về đích.hihiihhee."không có việc chi khó,chỉ sợ lòng không phá phách thui"
Link nè : http://www.mediafire.com/download.php?midilbzm5izjcrv
Young Be A :
Lưu ý: bạn phải cài đặt Windows XP cơ sở thì mới cài đặt được gói dao diện ngôn ngữ này,vì khi cài nó sẽ đòi ta bỏ đĩa chính Win mà ta đang chạy đó thì nó mới chịu về đích.hihiihhee."không có việc chi khó,chỉ sợ lòng không phá phách thui"
Link nè : http://www.mediafire.com/download.php?midilbzm5izjcrv
Young Be A :
Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012
Tìm hiểu Lịch sử Kon Tum
Kon Tum điều kiện tự nhiên đa dạng, tài nguyên thiên nhiên phong phú
Nằm ở phía Bắc Tây Nguyên, với vị thế địa – chính trị, địa – kinh tế quan trọng, tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng, kết cấu hạ tầng từng bước được nâng cấp đồng bộ, Kon Tum có khá nhiều lợi thế để vươn lên thoát nghèo, phát triển theo hướng CNH, HĐH. Kon Tum có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên. Do địa hình bị chia cắt phức tạp nên tạo sự phân hóa mạnh mẽ của khí hậu giữa các vùng địa lý trong tỉnh và sự khác biệt với khí hậu miền duyên hải Trung bộ và các tỉnh Tây Nguyên. Đất đai tỉnh Kon Tum bao gồm nhiều loại trên nền đất mẹ granít, giơ rai, bazan, với tích tụ phù sa sông suối, nhiều mùn tơi xốp. Đất Ferlalít ở Kon Tum phổ biến có nhiều loại: đất Feralít nâu vàng, vàng xám và Feralít nâu đỏ phân bổ trên các vùng khác nhau. Trong các loại đất đỏ, đất Feralít nâu đỏ phát triển trên nền đất Bazan không nhiều, nhưng có độ phì tự nhiên cao chiếm trên những vùng đồng bằng rộng thích hợp cho các loại cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê... Đất xám phát triển trên đá granít, nằm rải rác dọc theo các thung lũng của các sông Krông Pô Cô, Đăk Bla, Đăk Pxi, H’drâng, Đăk Pne và nhiều suối lớn nhỏ... rất thích hợp cho trồng lúa, màu, đậu, đỗ... đem lại năng suất khá cao.
Đất lâm nghiệp hiện có 920.000 ha. Trong đó, diện tích rừng chiếm trên 614.000 ha với... độ che phủ khoảng 65%. Kon Tum là tỉnh có thế mạnh lớn nhất là rừng. Trữ lượng gỗ còn rất lớn (trên 60.000.000m3). Rừng Kon Tum rất đa dạng, phong phú về động, thực vật quí hiếm. Hiện nay đã biết được trên 1.200 loài thực vật bậc cao có mặt tại Kon Tum, có nhiều loại cây gỗ quí như: trắc, cẩm lai, giáng hương, cà te, gụ, bạch trùng, thông tre... nhiều lâm sản quí khác trầm kỳ, nhựa thông, dầu rái, chai cục, mây, song, các loại lá làm men nhựa, cây làm nước xá xị... Động vật ở Kon Tum qua điều tra bước đầu đã phát hiện có gần 100 loài thú, 350 loài chim, nhóm ếch nhái và bò sát chiếm 1/6 số loài có tên trong danh sách đỏ Việt Nam như: bò rừng, bò tót, hoẵng, trâu rừng, nai trâu, nai cà tong, sóc bang, trĩ công, sao, gà... mặt đỏ...
Dưới lòng đất của Kon Tum cũng có nhiều loại khoáng sản quí như quặng sắt, quặng bôxit (cùng với kim loại quí là vàng, vàng gốc và vàng sa khoáng), các loại đá quí, nước khoáng... được phân bổ khá rộng. Các khoáng sản phi kim loại rất dồi dào như: đá, cát, sỏi, sét làm gạch ngói, sét cao lanh, sét địa tonit, bantônit có trữ lượng lớn ở nhiều vùng trong tỉnh.
Sông suối và ao hồ ở tỉnh Kon Tum chẳng những là nguồn thuỷ lợi, thủy điện dồi dào mà còn là điều kiện để nuôi trồng phát triển cá nước ngọt và môi trường trồng các loại thủy sản. Chúng len lỏi với địa hình rừng núi tạo cho Kon Tum một cảnh quan kỳ diệu của thiên nhiên hùng vĩ. Sông suối, rừng núi trên mặt đất giữ che tiềm ẩn trong lòng đất của tỉnh Kon Tum một hệ thống nước ngầm, nhiều nguồn nước nóng, có suối nước nóng đến 55oC như suối Ram Phia, suối Kon Nit... là những suối có chứa rất nhiều khoáng chất có tác dụng chữa bệnh có hiệu quả.
Nằm ở vị trí chiến lược ngã ba Đông Dương, nơi có các trục giao thông giao lưu của 3 nước Việt Nam – Lào – Campuchia, tỉnh Kon Tum có khoảng 650 km đường ranh giới, trong đó đường biên giới quốc gia gần 260 km. Toàn tỉnh có 3 tuyến quốc lộ lớn và mạng lưới các đường liên huyện, liên xã. Quốc lộ 14C (hiện nay là một phần của tuyến đường Hồ Chí Minh), con đường chiến lược Trường Sơn, chạy từ Đà Nẵng qua các huyện Đăk Glei – Ngọc Hồi, Đăk Tô – Đăk Hà – thị xã Kon Tum về Plei Ku, qua thị xã Thủ Dầu Một tới thành phố Hồ Chí Minh. Đoạn chạy qua tỉnh Kon Tum dài gần 200km, là huyết mạch giao thông quan trọng của tỉnh nối liền hầu hết thị trấn ở các huyện với khu trung tâm kinh tế – chính trị - văn hóa của tỉnh. Quốc lộ 24 từ Kon Tum qua Kon Rẫy, Kon Plông xuống Ba Tơ và ngã ba Thạch Trụ (Quảng Ngãi) dài 164 km. Quốc lộ 40 (đường 18) bắt đầu từ ngã tư Plei Kần (Ngọc Hồi) đi thị xã A Tô Pư (Lào) dài 132 km là đầu mối giao thông quan trọng không chỉ của Kon Tum với các tỉnh Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, mà còn là đầu mối giao lưu của nước ta với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Nơi đây có Cửa khẩu quốc tế Bờ Y nằm ở ngã ba Đông Dương (thuộc huyện Ngọc Hồi) mở ra nhiều triển vọng trong giao lưu quốc tế.
Nằm ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên, nơi có ngã ba Đông Dương, gắn chặt các đặc trưng về địa lý, tự nhiên tạo cho Kon Tum có tầm quan trọng chiến lược cả về chính trị, kinh tế và an ninh quốc phòng./.
H.X(Tổng hợp)
Đặc điểm xã hội cổ truyền và vài nét về văn hóa các dân tộc ở Kon Tum 1. Đặc điểm nổi bật của cư dân các dân tộc Kon Tum trong tổ chức xã hội cổ truyền là “làng”. Làng là từ gọi theo tiếng phổ thông để chỉ một tổ chức xã hội duy nhất, phổ biến chung trong tất cả các cộng đồng dân tộc bản địa ở Kon Tum. Mỗi dân tộc có một tên gọi cụ thể riêng: Dân tộc Ba Na gọi là “Kon”, dân tộc Ja Rai, dân tộc Xê Đăng gọi là “plei”, “plơi”, dân tộc Brâu gọi là “Đê” còn dân tộc Rơ Mâm gọi là “Srúc”... Làng là một tổ chức xã hội có kết cấu chặt chẽ. Trải qua quá trình lịch sử đầy biến động với các cuộc chiến tranh loạn lạc, nhưng diện mạo làng cổ truyền vẫn duy trì khá phổ biến và đậm nét. Đây là một đơn vị vẫn còn mang dấu ấn “công xã nông thôn” gần với nhiều chức năng trong đời sống xã hội.
Về thiết chế xã hội: “làng” là một tổ chức xã hội nhỏ nhất và cũng là duy nhất, vận hành theo cơ chế tự quản. Sau này, khi xã hội phát triển trong một thể chế hành chính quốc gia, gắn với từng thời kỳ lịch sử khác nhau, trên làng còn có xã, tổng, huyện (quận), tỉnh... thì làng vẫn là tổ chức xã hội gắn bó mật thiết với đồng bào các dân tộc.
Với tổ chức xã hội duy nhất đó, già làng được chọn là những người cao tuổi, có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, có đạo đức và uy tín trong cộng đồng làng . Trong phạm vi từng làng, mọi thành viên chịu sự điều khiển của già làng. Các dân tộc có số lượng người đông như Xê Đăng, Ba Na, Jẻ Triêng, bên cạnh già làng còn có “Hội đồng già làng” là những người đàn ông có độ tuổi trung niên làm chủ các nóc nhà, được lựa chọn theo tập quán, nhưng đứng đầu vẫn là “già làng”.
2. Văn hóa các dân tộc ở tỉnh Kon Tum là văn hóa “thống nhất trong đa dạng”.
Đối với các dân tộc bản địa, đặc trưng văn hóa được thể hiện qua những nội dung cơ bản sau:
- Luật tục: Luật tục là những “tập quán pháp” truyền miệng được bảo lưu qua bao đời nay vẫn còn phổ biến ở nhiều nơi. Trong hệ thống tự quản cổ truyền của xã hội cộng đồng làng, luật tục làm chức năng quản lý xã hội. Mọi hành xử của già làng và các thành viên cộng đồng làng đều tuân theo luật tục dựa trên nguyên tắc bàn bạc dân chủ – tập trung dưới sự điều khiển của già làng.
Hệ thống lễ hội: Đây là đặc trưng nổi bật trong đời sống văn hóa tinh thần của các dân tộc được hoàn thành từ lâu đời trong lịch sử. Có 3 hệ thống lễ hội chung:
+ Hệ thống lễ hội xung quanh vòng đời người bao gồm: lễ khi người phụ nữ có thai, lễ đặt tên, lễ thổi tai, lễ cúng đau ốm, lễ hỏi vợ (chồng), lễ cưới, lễ tang.
+ Hệ thống lễ hội liên quan đến sự tồn tại và phát triển của cộng đồng bao gồm: lễ hội đâm trâu, lễ hội cúng bến nước, lễ hội kiêng làng (lễ hội Bom Xởuk của dân tộc Brâu).
+ Hệ thống lễ hội liên quan đến quá trình sinh trưởng của cây trồng bao gồm: lễ chọn đất làm rẫy; lễ phát rẫy, lễ đốt rẫy, lễ trỉa hạt (lúa, bắp), lễ cúng lúa mới, lễ thu hoạch lúa, lễ mở cửa kho lúa (cơm mới)
- Văn học nghệ thuật dân gian.
Đồng bào các dân tộc Kon Tum có một kho tàng văn nghệ dân gian hết sức phong phú, độc đáo bao gồm: văn học, âm nhạc, dân vũ, kiến trúc, điêu khắc...
Hầu hết các dân tộc Ba Na, Xê Đăng, Jẻ Triêng, Gia Rai, Brâu, Rơ Mâm đều rất thích ca hát, nhảy múa và tấu cồng chiêng. Sinh hoạt ca múa nhạc luôn gắn với cộng đồng qua các lễ hội hàng năm. Đồng bào có rất nhiều bộ cồng chiêng quý và nổi tiếng với tài nghệ sử dụng rất điêu luyện những tiết tấu đặc sắc. Không gian văn hóa cồng chiêng của các dân tộc Kon Tum trong không gian văn hóa cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên đã có sức thu hút và lan tỏa rộng lớn trên phạm vi toàn thế giới, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Kiến trúc văn hóa được thể hiện ở trong bức tranh tổng thể. Bên cạnh những mái nhà rông cao vút, những nếp nhà sàn quen thuộc... thể hiện sắc thái riêng của đồng bào dân tộc, còn những nhà thờ gỗ, nhà thờ gạch xây với kiến trúc hài hòa, thỉnh thoảng kết hợp với những kiến trúc phương Tây, kiến trúc trùng điệp theo kiểu người Kinh và kiến trúc nhà sàn dân tộc.
Tất cả những đặc trưng văn hóa đó, đã tạo sức thu hút mãnh liệt và là một trong những tiềm năng về thế mạnh du lịch hấp dẫn đối với du khách khi đến với Kon Tum tham quan và nghiên cứu.
Bên cạnh thành phần cư dân các dân tộc thiểu số hiện nay người Kinh là một thành phần dân tộc có số lượng dân cư khá đông, có trách nhiệm và có vai trò không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh.
Cùng với người Kinh, còn có một bộ phận các dân tộc thiểu số ở phía Bắc mới di cư “kinh tế mới” từ sau giải phóng 1975 đến nay.
3.Kon Tum ngày nay đã và đang là nơi hội tụ của nhiều thành phần cư dân các dân tộc trong cả nước. Mỗi thành phần cư dân đều mang truyền thống và bản sắc văn hóa riêng nhưng đều có những điểm tương đồng, thống nhất – đó là sự “thống nhất trong đa dạng” trên mọi phương diện của đời sống kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội... Tất cả đều hướng vào mục tiêu chung trong sự nghiệp xây dựng quê hương Kon Tum ngày càng giàu đẹp./.
Song Lang
Nhà ngục Kon Tum và sự ra đời của Chi bộ Binh Trong quá trình xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã lập ra hàng chục nhà tù lớn nhỏ, nhằm mục đích giam cầm, tra tấn, giết hại những người Việt Nam yêu nước. Đó là hệ thống các nhà tù: Côn Đảo, Hỏa Lò, Buôn Ma Thuột, Sơn La, Ngục Kon Tum... và rất nhiều các nhà giam khác ở khắp các địa phương trong cả nước.
Nhà ngục Kon Tum nằm trong hệ thống nhà ngục của Thực dân Pháp. Nhà ngục được xây dựng khoảng cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XX. Ban đầu đây là nơi bọn thực dân cai trị giam giữ những tù thường phạm. Nhưng về sau, khi tù chính trị cộng sản bị đày lên giam cầm tại đây, tính chất nhà ngục đã thay đổi, trở thành nơi giam giữ, đày ải tù chính trị với những âm mưu và hành động thâm độc, tàn ác của chính quyền cai trị thực dân Pháp.
Thực dân Pháp hiểu rất rõ sự lợi hại của Nhà ngục Kon Tum, bởi tỉnh Kon Tum thời bấy giờ là nơi hoang vu, rừng thiêng, nước độc. Chọn Nhà ngục Kon Tum làm nơi giam cầm, đày ải tù chính trị cộng sản, thực dân Pháp sẽ đạt được nhiều mục tiêu trong việc cách ly tù chính trị cộng sản với phong trào cách mạng của các tỉnh vùng đồng bằng ven biển miền Trung Việt Nam; mặt khác Ngục Kon Tum là nơi giam giữ các tù chính trị cộng sản để cung cấp lượng nhân công cho việc lao động khổ sai làm đường 14; và thâm độc nhất là với chế độ bạc đãi tù nhân bằng việc bắt tù chính trị lao động khổ sai, tra tấn, đánh đập..., cùng với khí hậu nơi rừng thiêng nước độc, chúng sẽ thực hiện được âm mưu giết chết dần mòn tù chính trị mà không bị tai tiếng dư luận. Do vậy, Nhà ngục tuy quy mô không lớn và cũng không kiên cố, nhưng lại là nơi thực dân Pháp tiến hành âm mưu, thủ đoạn dã man nhất đối với tù chính trị.
Thực tế lịch sử chứng minh: Tại Ngục Kon Tum từ năm 1930 đến năm 1933, thực dân Pháp đã giam cầm, đày ải trên 500 lượt tù chính trị và gần một nửa trong số đó đã phải gửi nắm xương tàn tại đây và dọc con đường 14, con đường của địa ngục trần gian. Chỉ tính riêng trong 6 tháng mùa khô 1930-1931 (12-1930 đến tháng 5-1931), có 210 người trên tổng số 295 tù chính trị lúc đó đã bỏ mình trên công trường làm đường 14. Tại Nhà ngục Kon Tum đã xảy ra cuộc đấu tranh Lưu huyết ngày 12-12-1931 và cuộc đấu tranh Tuyệt thực ngày 16-12-1931 vang động núi rừng Kon Tum, gây chấn động dư luận trong và ngoài nước thời bấy giờ.
Nhà ngục Kon Tum, nơi địch đày ải giam cầm hàng trăm chiến sĩ cộng sản trung kiên, trong đó có nhiều đồng chí là lãnh đạo cao cấp của Đảng, những đảng viên cốt cán của phong trào cách mạng lúc bấy giờ như các đồng chí: Lê Văn Hiến, Hồ Tùng Mậu, Bùi San, Trương Quang Trọng, Đặng Thái Thuyến, Nguyễn Huy Lung, Lê Viết Lượng... Những tấm gương kiên cường chiến đấu dũng cảm hy sinh của cách mạng đã có tác động rất to lớn đối với phong trào cách mạng ở Kon Tum những năm 1930-1934 và cả sau này. Bên cạnh đó, Ngục Kon Tum cũng là nơi hun đúc, rèn luyện để sau này cung cấp cho cách mạng Việt Nam những chiến sĩ cách mạng tiền bối, những cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng như các đồng chí: Bùi San, Lê Văn Hiến, Ngô Đức Đệ, Hồ Tùng Mậu, Phạm Thể, Tôn Sỹ Khuê... đã có những cống hiến to lớn và quan trọng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại non sông.
Đối với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum, Nhà ngục Kon Tum để lại nhiều dấu ấn lịch sử quan trọng và đặc biệt. Sự kiện nổi bật, mang đậm dấu ấn lịch sử, là một mốc son, ghi dấu bước ngoặt đối với lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum đó là sự ra đời của tổ chức Đảng Cộng sản đầu tiên trên mảnh đất Kon Tum, chính tại Ngục Kon Tum. Đó là sự ra đời của Chi bộ Binh – Chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của tỉnh Kon Tum.
Sự việc diễn ra vào tháng 6 năm 1930, thực dân Pháp đưa Ngô Đức Đệ là tù chính trị cộng sản bị bắt ở Hà Tĩnh lên giam giữ tại nhà lao Kon Tum. Vì xem Ngô Đức Đệ là tù chính trị nguy hiểm nên địch bố trí giam Ngô Đức Đệ ngay sát phòng làm việc của cai đội Huỳnh Đăng Thơ để tiện giám sát, theo dõi. Nhưng sự việc lại diễn ra hoàn toàn trái với ý đồ của địch.
Huỳnh Đăng Thơ làm việc bên cạnh một tù chính trị cộng sản, qua giao tiếp hàng ngày, đội Thơ nhận thấy ở tù cộng sản Ngô Đức Đệ nhiều phẩm chất cao quý của một con người đạo đức, nghĩa khí, một lý tưởng cách mạng chân chính cao đẹp... đã đem lòng mến mộ. Ngược lại Ngô Đức Đệ nhận thấy ở Huỳnh Đăng Thơ – tuy là một cai tù nhưng hiền lành, thật thà, giàu tình cảm, có tinh thần dân tộc và lòng yêu nước nên đã cảm mến, kết nghĩa thân tình. Và giữa Huỳnh Đăng Thơ và Ngô Đức Đệ không còn khoảng cách giữa cai đội với người tù mà trở nên gắn bó thân thiết. Vốn sẵn lòng yêu nước, được Ngô Đức Đệ tuyên truyền vận động về Đảng, về cách mạng, Huỳnh Đăng Thơ đã giác ngộ và tình nguyện theo Đảng làm cách mạng. Sau một thời gian bồi dưỡng, thử thách, Ngô Đức Đệ đã kết nạp Huỳnh Đăng Thơ vào Đảng ngay tại Nhà ngục Kon Tum. Trở thành đảng viên cộng sản, Huỳnh Đăng Thơ cùng với Ngô Đức Đệ tiếp tục tuyên truyền vận động, bồi dưỡng thử thách, giúp đỡ và lần lượt kết nạp các cai đội: Huỳnh Liễu (cai Liễu), Nguyễn Cừ (Cai Cừ) vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 25-9-1930, tại Nhà ngục Kon Tum, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Kon Tum ra đời, gồm các đồng chí: Ngô Đức Đệ, Huỳnh Đăng Thơ, Huỳnh Liễu, Nguyễn Cừ, do Ngô Đức Đệ làm bí thư. Đến tháng 12-1930, chi bộ phát triển thêm 10 đảng viên, đồng chí Huỳnh Đăng Thơ được bầu làm Bí thư chi bộ. Sự ra đời của chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Kon Tum ngay trong nhà lao của kẻ địch và việc các đồng chí Huỳnh Đăng Thơ, Huỳnh Liễu, Nguyễn Cừ là những cai đội trở thành đảng viên cộng sản là sự kiện đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum. Sự kiện này ghi nhận ánh sáng cách mạng của Đảng đến với Kon Tum, một vùng đất xa xôi hẻo lánh, đồng thời còn là đòn giáng trả vào âm mưu và hành động thâm độc của kẻ địch.
Nét độc đáo, khác biệt của chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên ra đời tại Kon Tum so với các địa phương khác là chi bộ Đảng ra đời ngay trong sào huyệt của kẻ thù, trong trại lính của nhà ngục kẻ thù. Thành phần chính của các đảng viên chi bộ vốn là những cai đội, phó quản, binh lính trong hàng ngũ địch giác ngộ lý tưởng cách mạng của Đảng. Đây là một minh chứng cho sức sống cách mạng của Đảng luôn lan tỏa và thấm sâu đến mọi nơi, mọi thành phần, tầng lớp trong xã hội. Sự ra đời của chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Kon Tum còn thể hiện sự chủ động sáng tạo của Đảng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, nhất là dấy lên ngọn lửa cách mạng ngay chính trong lòng địch.
Đã hơn 7 thập kỷ trôi qua, Nhà ngục Kon Tum với sự ra đời của Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên mãi luôn là dấu ấn lịch sử của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum./.
Phước Tấn
Nét đặc sắc của Kon Tum trong Cách mạng Tháng Tám Vào những ngày đầu Tháng Tám năm 1945, phong trào cách mạng ở các tỉnh Nam Trung bộ cũng như cả nước sục sôi, bừng bừng khí thế nổi dậy, sẵn sàng chờ thời cơ đứng lên cướp chính quyền trong tay Nhật, Pháp.
Giữa lúc đó, tình hình chiến tranh thế giới thứ 2 đã bước vào giai đoạn kết thúc. Tình hình chủ quan và khách quan của cuộc khởi nghĩa đã đến. Chớp thời cơ thuận lợi, ngày 13-8-1945 Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ra lệnh tổng khởi nghĩa trong toàn quốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào cả nước “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Tổ quốc, đồng bào hãy vùng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Hưởng ứng lời kêu gọi, nhiều nơi trong cả nước đã đứng lên cướp chính quyền.
Chịu ảnh hưởng của Mặt trận Việt Minh và những người cộng sản, phấn chấn trước thắng lợi của khởi nghĩa giành chính quyền ở nhiều nơi trong cả nước, nhóm trí thức yêu nước và một số viên chức, binh sĩ tiến bộ như Tôn Thất Hy, Hoàng Lẫm, Nguyễn Năng Tịnh, Võ Văn Dật... đã bí mật họp tối 23-8-1945 bàn việc tổ chức giành chính quyền ở Kon Tum. Cuộc họp đã vạch kế hoạch cụ thể, đặt vấn đề huy động đông đảo quần chúng tham gia khởi nghĩa giành chính quyền, vận động binh lính giao nộp vũ khí, tiến hành nổi dậy ở các công sở, doanh trại của địch, gửi tối hậu thư yêu cầu các hiến binh Nhật còn lại ở Kon Tum không được can thiệp, tổ chức phối hợp đồng bộ với lực lượng từ Plei Ku (Gia Lai) lên hỗ trợ tạo sức mạnh tổng hợp.
Kế hoạch khởi nghĩa được chuẩn bị công phu, ông Võ Văn Dật được phân công phụ trách quân sự đã tiến hành thăm dò thái độ của binh lính bảo an ở các đồn, thu chìa khóa các kho súng đạn, tuyên truyền binh sĩ chuẩn bị tinh thần hạ vũ khí đón tiếp lực lượng khởi nghĩa. Vì thế, sáng ngày 25-8-1945, khi đoàn cán bộ Việt Minh từ Gia Lai lên (do đồng chí Dương Thành Đạt dẫn đầu) để phối hợp với lực lượng khởi nghĩa ở đây giành chính quyền thì mọi việc ở Kon Tum đã chuẩn bị xong. Quần chúng nhân dân Kon Tum trong tư thế vũ trang đứng sẵn đầu cầu Đăk Bla, nhà dây thép (Bưu điện), dinh Quản Đạo... chờ đón, cùng phối hợp với lực lượng Việt Minh ở Gia Lai lên để giành chính quyền.
Trước khí thế cách mạng của quần chúng, Hà Ngại – Tổng trưởng chính quyền bù nhìn phải bàn giao toàn bộ chính quyền cho lực lượng cách mạng. Khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Kon Tum diễn ra nhanh gọn và giành thắng lợi triệt để. Tại dinh Quản Đạo, đồng chí Trần Sanh thay mặt lực lượng Cách mạng khởi nghĩa tuyên bố: Việt Minh giành chính quyền, phế truất toàn bộ bộ máy cai trị cũ, thành lập chính quyền cách mạng. Đến chiều cùng ngày, Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời của tỉnh được thành lập gồm 5 thành viên do bác sỹ Hoàng Lẫm, làm Chủ tịch. Tại các địa phương như Đăk Tô, Đăk Glei, chính quyền và lực lượng địch cũng trong thế tan rã chờ lực lượng Cách mạng lên tiếp quản. Ở Kon Plông khởi nghĩa giành chính quyền còn có Việt Minh ở Quảng Ngãi lên phối hợp.
Ngày 28-8-1945 một cuộc mít tinh lớn đã được tổ chức tại sân vận động thị xã Kon Tum với hơn 3000 người thuộc mọi tầng lớp nhân dân các dân tộc, các thành phần lương cũng như giáo, từ khắp nơi trong thị xã và các khu vực phụ cận nô nức kéo về tham dự. Tại cuộc mít tinh, UBND cách mạng lâm thời chính thức ra mắt trước toàn thể nhân dân và công bố những chủ trương chính sách mới của chính quyền cách mạng, kêu gọi các tầng lớp nhân dân ủng hộ cách mạng, xây dựng và phát triển đời sống xã hội. Chủ tịch Hoàng Lẫm, kêu gọi toàn dân: “Người Kinh cũng như người dân tộc đoàn kết ủng hộ Việt Minh”.
Cuối tháng 8 khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công khắp cả nước. Tại Hà Nội, ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một thời đại mới cho lịch sử dân tộc ta.
Tối 2-9, tại Kon Tum, chính quyền cách mạng tổ chức cho nhân dân nghe lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập qua băng ghi âm được phát trên sóng phát thanh toàn quốc. Người dân ai nấy xúc động và vui mừng khi nghe lời Người tuyên bố trước toàn thể quốc dân và thế giới: “... Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập”. Mọi người càng phấn khởi và tin tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Đảng, của Mặt trận Việt Minh.
Khác với nhiều tỉnh trong cả nước, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Kon Tum diễn ra khi chưa có tổ chức cơ sở của Mặt trận Việt Minh và cũng chưa có tổ chức Đảng trực tiếp lãnh đạo. Trên thực tế ở tỉnh, quần chúng yêu nước chịu ảnh hưởng từ lâu của Đảng Cộng sản Đông Dương, đã tự động nổi dậy giành chính quyền (“Cách mạng Tháng Tám 1945”, Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội, 1980, trang 143). Trong đó ảnh hưởng sâu sắc và trực tiếp qua nhiều năm từ những chiến sỹ cộng sản bị địch bắt đày lên giam cầm trong các nhà lao ở Kon Tum. Cuộc khởi nghĩa diễn ra nhanh, gọn, thắng lợi trọn vẹn, rất ít đổ máu, hòa nhập với cao trào tổng khởi nghĩa cả nước.
Đó là biểu hiện sinh động, nhanh nhạy về mối quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản với đồng bào các dân tộc tỉnh Kon Tum; thể hiện phương pháp đấu tranh của các chiến sỹ cộng sản khi bị địch bắt, tù đày, cực hình nhưng vẫn kiên trung làm công tác Đảng, công tác binh vận, dân vận, thuyết phục lôi kéo được nhiều viên chức, binh lính, cai đội của địch về với nhân dân, sớm giác ngộ đi theo ngọn cờ của Đảng Cộng sản, của Việt Minh. Điều đó nói lên vai trò tác động đặc biệt to lớn của đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tính năng động, cách mạng của quần chúng nhân dân đã hành động đúng mực trên phương pháp cách mạng do Đảng đề ra. Đó cũng là mối quan hệ đặc biệt giữa những người cộng sản với quần chúng nhân dân đã tích tụ và phát triển trong nhiều năm đấu tranh chống ách nô dịch, hà hiếp của ngoại bang; nhất là trong cuộc chiến đấu chống thực dân, phong kiến áp bức bóc lột giành chính quyền về tay nhân dân, làm nên lịch sử trong những ngày Tháng Tám năm 1945 chói lọi. Và chính điều kiện khách quan ấy đặt tiền đề trực tiếp cho sự ra đời của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Kon Tum.
Nhân dân các dân tộc Kon Tum luôn tự hào với truyền thống Cách mạng Tháng Tám, truyền thống đó sẽ luôn là cơ sở vững chắc cho niềm tin thắng lợi trong tương lai./.
Song Lang
Giá trị văn hóa lịch sử của Di chỉ khảo cổ học Lung Leng trong bối cảnh văn hóa lịch sử Bắc Tây Nguyên Theo quá trình diên cách tỉnh Kon Tum thì trong tiến trình phát triển của lịch sử, Kon Tum đã trải qua nhiều biến động. Để đến hôm nay, chúng ta được nhìn thấy một Kon Tum ổn định và phát triển, một vùng đất có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng của cả nước.
Trong bài giới thiệu này chúng tôi chỉ khắc họa một giai đoạn về tiến trình phát triển lịch sử của Kon Tum, đó là văn hóa tiền sử trong đó lấy Lung Leng làm trọng tâm.
Cho đến nay, bức tranh tiền sử của Kon Tum đã được khắc họa rõ nét, để chúng ta có cơ sở thay đổi cách nhìn nhận về Kon Tum, về một cao nguyên miền thượng thời quá khứ, thông qua di chỉ khảo cổ học Lung Leng. Lần đầu tiên chúng ta tìm thấy một di chỉ khảo cổ học với phát hiện hết sức bất ngờ và phong phú, có thể nói đây là một di chỉ khảo cổ học thời đại đá lớn nhất ở Tây Nguyên và cả khu vực.
Do di chỉ nằm trong vùng ngập lòng hồ thủy điện Ya Ly, một công trình kinh tế trọng điểm của cả nước, vì vậy được sự quan tâm của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Năng lượng, Bộ Văn hóa - Thông tin trước đây và sự tạo điều kiện của chính quyền địa phương tỉnh Kon Tum, nên Di chỉ Lung Leng đã hoàn thành công đoạn khai quật, di dời.
Tuy vậy, đó mới chỉ là giai đoạn đầu của một quy trình khám phá, nghiên cứu về Lung Leng, để đi đến cơ sở kết luận về một nền “Văn hóa Lung Leng”. Chắc chắn rằng, Báo cáo kết quả nghiên cứu về Lung Leng sẽ cho chúng ta thấy rõ mối quan hệ về văn hóa, lịch sử của cư dân cổ Lung Leng với các cư dân khác ở vùng bắc Tây Nguyên nói riêng và vùng Đông Nam á nói chung. Nó phục vụ công tác nghiên cứu khoa học trong và ngoài ngành trong toàn quốc. Trước hết là việc góp phần sử liệu vật thật phục vụ cho công tác biên soạn lịch sử địa chí của tỉnh Kon Tum. Nó còn phục vụ công tác khoa học bảo tồn bảo tàng, giáo dục truyền thống, lòng hướng về cội nguồn và tình yêu quê hương đất nước, cùng với việc nâng cao ý thức của cán bộ và quần chúng nhân dân trong và ngoài tỉnh khi nhìn nhận, đánh giá về nền văn hóa truyền thống của Kon Tum cũng như vùng bắc Tây Nguyên. Là cơ sở để bác bỏ những luận điểm của các học giả thực dân trước đây khi nghiên cứu về Kon Tum và cả vùng Tây Nguyên.
Mặc dù chỉ mới thực hiện giai đoạn đầu, nhưng chúng ta đã có đủ cơ sở để kết luận rằng: “Kon Tum là một vùng đất sớm có sự khai phá của con người và trong tiến trình phát triển của lịch sử đây là một vùng đất đầy năng động, sáng tạo và có mối giao lưu rộng mở” (Báo cáo kết quả khai quật Di chỉ Lung leng).
Lùi về quá khứ, chúng ta điểm qua những phát hiện về một Kon Tum thời tiền sử. Từ cuối thế kỷ 19, những giáo sỹ người Pháp trong đó có H.Picy, R.P.Guerlach đã sưu tầm được những chiếc rìu đá mài toàn thân ở Kon Tum. Và trong kho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam hiện còn lưu giữ 20 di vật thời tiền sử của Kon Tum được tiếp quản từ Viện Viễn Đông Bác Cổ (Những phát hiện mới về khảo cổ học (NPHM); Vũ Văn Bát - 1984; tr33 - 38).
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các chiến sỹ quân giải phóng, trong khi đào công sự ở huyện Sa Thầy đã thu lượm được một số cuốc đá, rìu đá. tuy hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, sự sống và cái chết luôn cận kề nhưng với ý thức bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, tôn trọng quá khứ, cao hơn hết là tình yêu quê hương đất nước, các chiến sĩ cách mạng đã bằng mọi cách chuyển số di vật này lên cấp chỉ huy sau đó được chuyển về cơ quan chuyên môn ở Hà Nội mặc dù chưa có điều kiện để xác minh (theo Hoàng Xuân Chinh và Nguyễn Khắc Sử 1974: tr115-116; NPHM).
Đặc biệt từ năm 1990 trở lại đây cùng với việc điều tra khảo sát lòng hồ thủy điện, nhiều di vật tiền sử Kon tum được thu thập, nhiều sưu tập mới được công bố (Võ Quý và Phan Thanh Bàng năm 1991: tr69-70; Phan Thanh Bàng 1991: tr70-71; Phan Thanh Bàng 1992: tr72-73…; NPHM) bên cạnh đó cần phải kể đến những di vật trôi nổi, phát hiện trong dân vùng Sa Thầy và thị xã Kon Tum. Họ nhặt được trong quá trình đi làm rẫy, đào vàng sa khoáng, mà tiêu biểu nhất là sưu tập của ông Nguyễn Ngọc Kim ở Bình Nam, Sa Bình, Sa Thầy (trên 300 di vật ông đã tặng cho Bảo tàng Kon Tum), sưu tập của Bế Văn Phúc, 128 Ngô Quyền, thị xã Kon Tum, sưu tập của ông Văn Đình Thành, 60 Hoàng Văn Thụ, thị xã Kon Tum…
Kể từ năm 2001 trở về trước, các nhà nghiên cứu về tiền sử Đông Nam Á vẫn cho rằng, Kon Tum chỉ là hành lang, là điểm giao lưu văn hóa giữa các trung tâm: Đông Bắc Thái - Bắc Lào - Đông Sơn - Sơn Huỳnh - Đồng Nai - Sam Rông Sen, Campuchia.
Việc tiếp nhận bộ sưu tập của ông Nguyễn Ngọc Kim là việc xác định đích thực Di chỉ khảo cổ học Lung Leng. Chỉ hơn một tháng tiếp nhận bộ sưu tập đó là thời gian thực hiện các thủ tục về hành chính pháp lý, đến ngày 21/9/1999 Viện khảo cổ học thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Sở Văn hóa - Thông tin Kon Tum đã khởi công khai quật lần thứ nhất di chỉ Lung Leng với diện tích 106m2. .
Do tính chất đặc biệt quan trọng của Lung Leng, ngày 24/5/2001 di chỉ Lung Leng được khai quật đợt 2, với diện tích 11.500m2.
Kết quả khai quật đã phát hiện được các di tích bếp lửa, lò lung, mộ táng, di cốt người, mẫu thực vật. Về hiện vật, đã thu được trên 10.000 công cụ đá với hàng chục vạn mảnh gốm.
Với kết quả ban đầu ở Lung Leng đã gợi mở cho chúng ta nhiều điều, xã hội tiền sử của Kon tum đã được vén bức màn bí mật. Lung Leng là di chỉ có quy mô lớn, có tầng văn hóa dầy, có số lượng di vật phong phú. Cư dân tiền sử Lung Leng có mối giao lưu rộng mở với các nhóm cư dân cổ khác ở Việt Nam và Đông Nam Á, nhưng vẫn bảo lưu những nét đặc trưng văn hóa, điều đó được thể hiện qua các di tích di vật.
Những đặc trưng trên còn được thể hiện rất rõ nét ở hơn 50 địa điểm khảo cổ học phát hiện trên địa bàn toàn tỉnh sau Lung Leng. Hiện nay hầu như tất cả các huyện, thị xã trong tỉnh đều phát hiện được di chỉ khảo cổ học tiền sử. Tuy vậy, với số lượng 57 địa điểm mới được phát hiện này, mới chỉ là một phần trong việc thực hiện công tác điều tra tổng thể các di tích khảo cổ trên địa bàn tỉnh Kon tum. Ở đây bên cạnh việc tiến hành khai quật thì công tác điều tra vẫn tiếp tục thực hiện. Có thể nói hiện nay Kon Tum là một tỉnh có số lượng di tích và di vật thời tiền sử lớn nhất Tây Nguyên và cả khu vực miền Trung.
Những phát hiện khảo cổ học mới đây là cơ sở cho chúng ta có một nhận thức mới về văn hóa tiền sử Kon Tum. Trước hết cho ta thấy người tiền sử Kon Tum cư trú thành từng cụm tập trung 2 bên bờ các con sông lớn, gần các nguồn nước mà chúng ta vẫn gọi là làng cư trú trên đồi ven sông. Địa điểm cư trú của họ còn là xưởng chế tác công cụ, khu mộ táng. Kinh tế của người tiền sử Kon Tum mang tính hỗn hợp, bao gồm: Săn bắt, hái lượm, chế tác công cụ, trao đổi sản phẩm và bước đầu biết trồng trọt cũng như kỹ thuật luyện kim. Người tiền sử Kon Tum đã có một tổ chức xã hội nhất định. Trong mô thức sống ấy, có sự phân công lao động. Người tiền sử Kon Tum có một đời sống tinh thần phong phú, thể hiện qua kỹ thuật chế tác công cụ đá, hoa văn trên gốm. Thổ hoàng tô trên gốm, các kiểu dáng chum, vò, bát bồng, các hạt chuỗi, vòng, khuyên tai, các viên thạch anh… Xã hội người cổ Kon Tum đã hình thành lên thế giới tâm linh thông qua đồ tùy táng, tư duy về số lẻ qua các di vật tìm thấy ở trong mộ…
Ngoài những giá trị, ý nghĩa về văn hóa lịch sử đã nêu trên thì có một vấn đề của hiện tại chúng tôi vẫn phải nhắc đến. Đó là, do đặc điểm cư trú của người tiền sử Kon Tum thường tập trung chính các vùng trũng, nơi có nguồn nước dồi dào, chủ yếu tập trung dọc theo hai bên bờ các con sông lớn như Đăk Bla, Đăk Kroong, Pô Kô cũng như điểm giao hội của các con suối lớn với những con sông ấy.
Xuất phát từ những đặc điểm trên, hiện nay có rất nhiều di chỉ khảo cổ mới được phát hiện nằm trong vùng ngập và bán ngập của lòng hồ thủy điện Ya Ly và thủy điện Plei Krông. Thiết nghĩ, để góp phần cứu lấy một nền văn hóa, đối với 57 địa điểm di tích tiền sử của tỉnh Kon Tum mới được phát hiện, chúng ta hãy coi việc khai quật Di chỉ Lung Leng và các di chỉ thuộc lòng hồ thủy điện Plei KRông là một bài học tốt, bởi vì đó là một hoạt động khoa học nghiêm túc, kết quả khai quật này có giá trị to lớn đối với những ai yêu quí và gắn bó với mảnh đất cực Bắc Tây Nguyên này./.
Phan Thanh Bàng
Lễ hội của các tộc người ở Kon Tum có dáng vẻ riêng mang tính khu vực. Lễ hội cộng đồng được sản sinh trong điều kiện, hoàn cảnh sống, lao động sản xuất gắn liền với núi rừng mênh mông vô tận; chính từ đó, nó chứa đựng một sắc thái văn hóa riêng – văn hóa lấy con người làm chủ, lấy đất trời làm khuôn mẫu, văn hóa ấy là sự hài hòa của nắng mưa, của núi rừng và nương rẫy. Lễ hội dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Kon Tum đều là những lễ hội mang tính qui mô nhỏ, được thể hiện trong phạm vi một gia đình, nhóm gia đình, cao nhất là một cộng đồng làng.
Lễ hội của các tộc người ở Kon Tum nói riêng và Tây Nguyên nói chung là lễ hội nguyên hợp, bao giờ cũng xuất phát từ yếu tố thiêng – nghi thức tế lễ, hiến sinh để mong đổi lại sự bình yên và no đủ. Khi các hành động đó cảm thấy được chứng giám thì ở mỗi con người như được cởi mở, thăng hoa. Sự thăng hoa đó được cộng cảm tạo thành không khí của lễ hội. Như vậy hội là hệ quả của lễ. Không có lễ thì không có hội, nhưng không phải lễ nào cũng thành hội. Có lễ chỉ là lễ, chỉ khi nào lễ tạo được niềm hứng khởi, náo nức, lan tỏa khắp các thành viên của cộng đồng, tâm trạng đó phải quy tụ thành niềm vui chung cần được giải tỏa thông qua các hành động biểu cảm. Không gian, tâm trạng của lễ nhanh chóng nhường chỗ cho hội. Đây là nguồn gốc của lễ hội.
Hệ thống lễ hội của các dân tộc ở Kon Tum chia làm ba đường dây chính bao gồm : Thứ nhất là hệ thống lễ hội xung quanh vòng đời người với quan niệm con người từ khi sinh ra đến khi xuống mồ phải trải qua một quá trình của mối quan hệ ứng xử, mối quan hệ cá nhân với cá nhân; cá nhân với cộng đồng; cá nhân, cộng đồng với đấng siêu nhiên (Jàng). Trong khi điều kiện sinh tồn của con người còn muôn vàn khó khăn, phải đối mặt với đói nghèo, bệnh tật, thú dữ, chết chóc… Do đó vòng đời người cũng gắn liền với cả một hệ thống lễ hội tương ứng trong mỗi thời kỳ và tình huống cụ thể.
Một số lễ hội điển hình về chu kỳ vòng đời người của đồng bào các dân tộc thiểu số Kon Tum được thể hiện như Lễ cưới: xem xét từ lễ thức hôn nhân – công việc hệ trọng của mỗi cá nhân, yếu tố cơ bản, tiền đề sản sinh ra con người. Hôn nhân được gia đình và cộng đồng dành cho một sự quan tâm đặc biệt, từ nghi thức, nghi lễ, các điều kiện vật chất và tinh thần phong phú, sắc thái tình cảm đặc biệt, mối quan hệ ứng xử đa chiều… trong không gian văn hóa cộng đồng.
Lễ thổi tai thì lại bao hàm nhiều ý nghĩa bởi kết quả của hôn nhân là những đứa con của gia đình – thành viên mới của cộng đồng. Đi kèm với nó là những lễ thức tương ứng. Từ lễ cầu đẻ thuận, lễ đặt tên, đặc biệt là lễ thổi tai; chưa làm lễ thổi tai thì chưa được coi là thành viên chính thức của cộng đồng. Khi đứa trẻ được khoảng 3-4 tuổi, gia đình và cộng đồng tổ chức lễ thổi tai. Tùy theo điều kiện kinh tế mà gia đình tổ chức ở quy mô to, nhỏ khác nhau, điều kiện đó không quan trọng. Điều cốt yếu và có ý nghĩa nhân văn nhất là trong cuộc lễ, già làng, cha mẹ và mọi người nói vào tai (thổi) đứa trẻ luồng sinh khí – những điều tốt đẹp nhất, mang ý nghĩa của sự định hướng, chỉ bảo, dặn dò, cầu mong đứa trẻ lớn lên trở thành người con ngoan của gia đình và xã hội. Và cũng từ đây, đứa trẻ được công nhận là một thành viên chính thức của cộng đồng.
Lễ cúng đau ốm: Trong hoàn cảnh sống hiện tại của người dân ở Tây Nguyên nói chung và ở Kon Tum nói riêng còn rất nhiều khó khăn về điều kiện vật chất, sinh hoạt, môi trường, khí hậu khắc nghiệt…; hơn nữa, kiến thức về y học rất hạn chế, người ta không biết được nguyên nhân hoặc loại bệnh mắc phải. Họ cho rằng người đau ốm là do ma rừng, ma suối bắt hồn; do đó, chỉ có cách làm lễ cúng cầu mong được trợ giúp. Khi đó, thầy cúng được mời tới và tiến hành nghi lễ. Lễ vật dùng cho tất cả nghi lễ này là rượu và gà. Qua nghi lễ, ý nguyện là cầu mong Jàng trả lại hồn cho người ốm để chóng khỏi bệnh, nếu cúng không khỏi thì người ta cúng tiếp và dùng lễ vật lớn hơn như heo, bò, trâu…
Hiện nay, đã có trạm xá và có thầy thuốc thường trực, đồng bào đã đưa người bệnh đến trạm y tế để chạy chữa; song, vừa chạy chữa tại bệnh xá vẫn có cúng bái theo nghi thức dân gian; đây là cách để trấn an, trợ giúp tinh thần của người bệnh và gia đình.
Lễ tang: Tín ngưỡng nguyên thủy của một số dân tộc thiểu số ở Kon Tum cho rằng con người chết không phải là hết, chết chỉ là sự chuyển chỗ về với ông bà và tiếp tục tái sinh ở kiếp khác (luân hồi). Do vậy, lễ tang chỉ là một cuộc tiễn đưa đầy lưu luyến giữa người đi kẻ ở.
Khi gia đình có người chết, người nhà nổi chiêng, trống báo hiệu cho toàn thể cộng đồng biết để đến cùng gia đình lo làm ma. Người chết được thay áo, váy, khố mới, được đưa ra khỏi nhà và đặt trong nhà tang. Ngôi nhà vừa được cả cộng đồng cùng làm cho ma bằng tranh, tre, nứa gọi là nhà mồ. Người chết được đặt vào quan tài làm bằng một thân gỗ to, khoét rỗng và đậy nắp rồi buộc chặt lại, sau đó dùng đất sét trét kín những khe hở.
Lúc này, mọi người mang đến rượu, heo, gà cùng nhà chủ là bữa ăn cộng đồng chia tay với người chết. Toàn thể cộng đồng ăn uống, nhảy múa, đánh cồng chiêng liên tục cả ngày xung quanh nhà ma. Đến ngày thứ 3 (có khi 4-5 ngày), người ta mới đem đi chôn tại nghĩa địa của làng. Người chết được chia của bằng người sống vì họ cho rằng đến nơi ở mới cần những đồ dùng, phương tiện để tiếp tục sinh hoạt và lao động. Tài sản được chia gồm : Chiêng, ché, gùi, rìu… nhưng tất cả các thứ này đều được làm vỡ hay bẻ gãy, bởi theo quan niệm của họ, thế giới ma là thế giới lộn ngược với thế giới của người sống – xấu là tốt, vỡ là lành, ngày là đêm…
Tiếp đến là Hệ thống lễ hội liên quan đến quá trình sinh trưởng của cây trồng, cũng như vòng đời người, cây trồng cũng có cả một quá trình sinh trưởng từ khi chọn đất, gieo hạt, đơm bông, kết trái và thu hoạch. Những lễ thức cũng cận kề trong suốt quá trình gieo trồng này của người dân, hòng cầu mong cho cây cối tươi tốt, không sâu bệnh, được mùa cho đời sống no đủ.
Bắt đầu từ lễ chọn đất; lễ phát rẫy; lễ tỉa lúa; lễ cúng lúa mới; lễ thu hoạch lúa; lễ mở cửa kho lúa… Trong hệ thống các lễ thức này, từ chọn đất đến thu hoạch lúa, quy mô thường nhỏ, lẻ ở phạm vi gia đình; còn lễ hội cúng lúa mới và lễ mở cửa kho lúa là lễ hội lớn của cộng đồng. Đây là nghi thức đánh dấu sự kết thúc của một chu trình sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là sự mong muốn, chuẩn bị các điều kiện, phương tiện và tinh thần cho công việc sản xuất của mùa sau. Chính vì lẽ đó nên cộng đồng dành cho lễ hội này sự quan tâm đặc biệt. Ở đó tập trung, chứa đựng, chuyên chở những giá trị văn hóa đặc sắc – văn hóa tâm linh, văn hóa xã hội, văn hóa nghệ thuật và những khuôn mẫu ứng xử xã hội – cộng đồng sâu sắc.
Cuối cùng là hệ thống Lễ hội liên quan đến sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, đối với các tộc người ở Kon Tum, cộng đồng Plei (làng) có một vị trí vô cùng quan trọng – gắn kết chặt chẽ, chi phối toàn bộ mọi mặt đời sống của con người. Mọi thành viên có trách nhiệm với cộng đồng và ngược lại cộng đồng chi phối mọi mặt đời sống của mỗi cá nhân riêng lẻ. Cá nhân bị đuổi khỏi cộng đồng là một hình phạt cao nhất – nặng hơn cái chết. Chính điều đó giải thích tại sao lễ hội cộng đồng là những lễ thức đặc biệt quan trọng.
Lễ hội cộng đồng chỉ được tổ chức khi có những sự kiện, những biến động to lớn ảnh hưởng đến sự hưng vong của cả cộng đồng như : Lễ
hội mừng chiến thắng, lễ hội cúng bến nước, lễ hội mừng nước giọt, lễ hội mừng nhà rông mới … những lễ hội này thường có tục lệ dâng vật hiến sinh như đâm trâu, dê, heo, gà; các dân tộc thiểu số đều có lễ kiêng làng, nghi lễ này được tổ chức khi có cháy nhà, bệnh dịch lớn làm chết nhiều người và gia súc, bị sét đánh, có người chết sông chết suối, tai nạn... Khi đó người ta rào làng – nội bất xuất, ngoại bất nhập. Trước lễ người ta tắt hết lửa cũ trong bếp của các gia đình và để cộng đồng chuẩn bị mọi điều kiện cho lễ hội.
Trần Vĩnh
Chiến thắng Măng Đen – Măng Buk – Kon Braih trong chiến dịch Bắc Tây Nguyên (01-1954) – Góp phần đánh bại kế hoạch Át-lăng I. Cục diện chung ở Kon Tum và cả nước
Sau khi giành chính quyền thắng lợi từ cuộc cách mạng mùa thu năm 1945, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân các dân tộc Kon Tum hồ hởi bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới. Tỉnh uỷ lâm thời Kon Tum được thành lập đã nhanh chóng lãnh đạo nhân dân bắt tay ngay vào cuộc củng cố chính quyền cách mạng, củng cố thực lực chính trị, chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến trường kỳ.
Dưới sự lãnh đạo của Liên Khu uỷ V và Tỉnh uỷ lâm thời Kon Tum, những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, phong trào kháng chiến ở Kon Tum đã có những chuyển biến về nhiều mặt. Hệ thống tổ chức đảng, chính quyền được tăng cường, lực lượng vũ trang, nửa vũ trang được phát triển, cơ sở và phong trào kháng chiến phát triển trưởng thành, đội ngũ đảng viên, nhất là đảng viên dân tộc thiểu số được tăng thêm, đảm nhiệm vai trò kháng chiến ở địa phương. Đây là sức mạnh của Đảng bộ để đưa sự nghiệp kháng chiến tiến lên bước cao
II. Âm mưu của thực dân Pháp- Kế hoạch Át-lăng
1. Mặc dù thất bại nặng nề ở khắp các chiến trường trong cả nước và ở Nam Trung bộ, Bắc Tây Nguyên nhưng thực dân Pháp vẫn ngoan cố, theo đuổi mục đích chiến tranh xâm lược Đông Dương.
Ở Bắc Tây Nguyên, địch vẫn tiếp tục thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”, “Một quốc gia trong lòng các quốc gia”. Nhưng thủ đoạn thâm độc và xảo quyệt hơn là chia rẽ các dân tộc, phá hoại khối đoàn kết toàn dân, mua chuộc quần chúng, phát triển GUOM (viết tắt chữ Group unifié dé races opprimeés nghĩa là: Nhóm liên kết các dân tộc bị áp bức), tề, điệp, dồn dân, khủng bố đối với vùng du kích và căn cứ du kích. Phương châm của chúng là “Ăên chắc, lấn dần”. Về quân sự, địch đã tập trung những lực lượng ứng chiến nhỏ ở các tiểu khu Plei Ku, Kon Tum và các đội biệt kích xuyên sơn đánh phá vùng du kích, hành lang, kho tàng, uy hiếp quần chúng; xâm nhập các vùng căn cứ, vùng du kích để nắm tình hình, bắt cán bộ, đánh phá cơ sở. Lập lại tiểu đoàn ngụy quân nhằm tăng cường sức cơ động chống chiến tranh du kích đang phát triển mạnh ở khắp chiến trường Kon Tum. Về chính trị, địch tăng cường tuyên truyền nói xấu Việt Minh, nói xấu chính phủ, đề cao Bảo Đại, che đậy hành động xâm lược của thực dân Pháp. Dùng phim ảnh, hàng viện trợ tuyên truyền cho sức mạnh Mỹ; tổ chức gián điệp chui vào hàng ngũ kháng chiến, chia rẽ cán bộ và nhân dân hòng làm suy yếu kháng chiến.
Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của TW Đảng và chính phủ, trực tiếp là Liên Khu uỷ V và Bộ Tư lệnh quân khu V, ta đã nhanh chóng sắp xếp lực lượng, tăng cường cán bộ ổn định tổ chức, thống nhất chỉ đạo trên địa bàn.
2. Kế hoạch Át-lăng
Để thực hiện kế hoạch Át-lăng (bước 1 của kế hoạch NaVa), Bộ chỉ huy viễn chinh Pháp giao cho tên tướng Đơ Bô-pho (De Beaufort)- Tư lệnh quân khu Tây Nguyên chỉ huy.
Kế hoạch Át-lăng chia làm 3 bước:
-Bước 1: Dùng 22 tiểu đoàn đánh chiếm thị xã Tuy Hòa và toàn bộ Phú Yên bằng ba mũi: đổ bộ từ đường biển vào; từ Khánh Hoà đánh ra; từ Đăklăk đánh xuống.
-Bước 2: Đánh chiếm Quy Nhơn và toàn tỉnh Bình Định cũng trên 3 hướng: từ Phú Yên ra; Từ An Khê xuống và từ đổ bộ đường biển.
-Bước 3: Là bước quyết định, tập trung toàn bộ lực lượng cơ động tiến công xoá vùng tự do liên khu V, lấy thị xã Quãng Ngãi làm hợp điểm của 4 hướng tấn công: từ Quảng Nam đánh vào; Bình Định đánh ra; từ Kon Tum đánh xuống và từ biển đánh lên.
III. Chủ trương của ta.
Âm mưu của địch tuy xảo quyệt và thâm độc, nhưng TW Đảng và Bộ Chính trị đã nắm bắt được tình hình, chủ động trong chỉ đạo chiến trường. Hơn nữa, phương hướng chiến lược được rút ra từ Hội nghị TW lần thứ 4 (01-1953) là chuẩn bị lực lượng ngày càng lớn, càng mạnh vào những cứ điểm của địch.
Đánh giá toàn bộ chiến trường Nam Trung bộ- Tây Nguyên là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng nhất. Từ 8 năm nay, do địa bàn chiến lược Tây Nguyên bị địch khống chế, nên căn cứ địa kháng chiến của ta dọc ven biển không có chỗ dưạ vững chắc, luôn ở trong tình thế bị uy hiếp cả bốn mặt.
Ta có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc tổ chức bao vây đánh tiêu diệt gọn từng đơn vị, từng cụm phòng thủ của địch, tiến công lên Tây Nguyên tiêu diệt địch, mở rộng khu căn cứ kháng chiến thì mới đánh lại âm mưu lấn chiếm vùng tự do của địch, đánh ngay vào khu vực bàn đạp của địch, phá ngay một mắt xích quan trọng của thế trận tiến công, buộc địch phải đối phó.
IV. Diễn biến chính của chiến dịch Bắc Tây Nguyên và chiến thắng Măng Đen - Măng Buk - Kon Braih.
Bắc Tây Nguyên, quân Pháp tổ chức thành 2 tiểu khu: Tiểu khu Kon Tum và tiểu khu Gia Lai. Ở tiểu khu Kon Tum, ngoài thị xã ra, địch bố trí quân thành 2 cụm: cụm đường 14 từ Đăk Tô đi Đăk Glei, án ngữ phía Bắc. Cụm đường số 5 gồm các cứ điểm Kon Braih, Măng Đen, Măng Buk án ngữ hướng Đông, giành thế phòng thủ vững chắc cho Bắc Tây Nguyên.
Ngày 20-01-1954, thực hiện bước 1 kế hoạch Át-lăng, khi địch tấn công ra Phú Yên (với sự huy động 22 tiểu đoàn của bốn binh đoàn 10, 100, 41, 42), quân và dân các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa và Đaklak đánh trả quyết liệt.
Ngày 26-01 ta bất ngờ nổ súng tấn công bắt đầu chiến dịch Bắc Tây Nguyên, các đơn vị trên hướng đường 19 - An Khê cùng một lúc tiêu diệt các cứ điểm KaTung, Ba Bả- Ka Tu và Bup Bê.
Đêm 27 rạng 28- 01, chủ lực ta trên hướng chính Đông Kon Tum, cùng lúc nổ súng tấn công 3 cứ điểm: Măng Đen, Măng Buk, Kon Braih. Cuộc chiến đấu diễn ra gay go và quyết liệt, nhất là ở Măng Đen. Đây là cứ điểm kiên cố nhất, cái xương sống của cụm phòng thủ phía Đông Bắc Kon Tum, án ngữ cửa ngõ miền Tây Quãng Ngãi. Địch xây dựng ở Măng Đen thành căn cứ điểm kiên cố có công sự vững chắc.
Chiến thắng Măng Đen, Măng Buk, Kon Braih có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định thắng lợi của toàn chiến dịch Bắc Tây Nguyên Đông - Xuân 1953-1954. Hệ thống phòng ngự của địch ở Đông Bắc tỉnh Kon Tum bị sụp đổ, cánh cửa tiến vào Bắc Tây Nguyên đã được mở. Toàn bộ quân địch ở Tây Nguyên bị dao động, kế hoạch Át-lăng có nguy cơ bị phá sản ngay từ bước 1.
Trận đầu quân và dân ta đã thắng lớn. Đó là thắng lợi của sự nỗ lực vượt bậc, hy sinh cao cả, mưu trí, linh hoạt, dũng cảm, sự lãnh đạo tài tình và sự phối hợp đồng bộ của toàn quân và nhân dân tỉnh Kon Tum, cũng như của toàn miền, toàn chiến dịch và nghệ thuật chỉ đạo quân sự. Chiến thắng này mở ra thời cơ thuận lợi để tiến lên giải phóng thị xã Kon Tum và toàn tỉnh Kon Tum.
Đánh giá về ý nghĩa thắng lợi, trong thư chúc mừng chiến thắng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh QĐNDVN đã viết: “Thắng lợi Kon Tum là một thắng lợi lớn của ta trên chiến trường miền Nam, nó cũng là một trong những thắng lợi to lớn của ta trong mùa xuân này trên chiến trường toàn quốc”./.
H.X (tổng hợp)
Kon Tum – âm vang những chiến công Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bộ đội chủ lực Liên khu V chủ yếu là các đơn vị Nam tiến chi viện cho Nam bộ và Nam Trung bộ, cùng với đội du kích Ba Tơ, dần dần xây dựng nên các tiểu đoàn, trung đoàn; phương pháp tác chiến lúc này là phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương diệt địch trong từng trận đánh, hỗ trợ việc xây dựng cơ sở và làm nòng cốt cho phong trào du kích chiến tranh, hõ trợ cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. Âm mưu của thực dân Pháp lúc này là đánh chiếm toàn bộ Tây Nguyên, biến Tây Nguyên thành xứ “Tây kỳ tự trị”, phá vỡ khối đại đoàn kết giữa các dân tộc cùng chung sống trên mảnh đất Tây Nguyên, tiếp tục thực hiện chính sách “chia để trị”.
Năm 1946, thực dân Pháp đánh chiếm Kon Tum, thời gian này ta gặp rất nhiều khó khăn, chính quyền còn non trẻ, lực lượng vũ trang còn yếu, phải tạm lùi về phía sau để xây dựng và phát triển, chỉ có một bộ phận nhỏ bám cơ sở để hoạt động. Trước tình hình đó, Khu uỷ đã tăng cường cho Bắc Tây Nguyên hai Trung đoàn 94 và 95, với nhiều cố gắng, ta đã xây dựng được căn cứ Mường Hoong với hơn 100 làng kháng chiến. Lúc này, với vị thế của mình, tỉnh Kon Tum phải gánh vác nhiệm vụ nặng nề trong bối cảnh chung của toàn Liên khu. Trên địa bàn tỉnh, quân Pháp đánh mạnh vào cơ sở của ta. Chúng tìm mọi cách ngăn chặn, đẩy lùi các đội vũ trang tuyên truyền, ráo riết tổ chức mạng lưới điệp tề trong các buôn làng để chống phá cách mạng.
Tháng 5-1949, Hội nghị Quân sự Liên khu V lần thứ nhất xác định Tây Nguyên là chiến trường chính của Liên khu và chủ trương mở rộng mặt trận Tây Nguyên, tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm. Các đơn vị bộ đội chủ lực tiếp tục về địa phương làm nòng cốt cho phong trào cách mạng, củng cố và phát triển lực lượng bán vũ trang, đẩy mạnh du kích chiến tranh, xây dựng làng kháng chiến. Công tác xây dựng cơ sở, bám đất giành dân phát triển thuận lợi, từ hơn 100 làng kháng chiến, đến lúc này khu căn cứ Mường Hoong đã có 700 làng.
Cuối năm 1950, quân ta thắng lớn trong chiến dịch Biên giới. Trên toàn chiến trường, quân Pháp ngày càng sa vào thế bị động đối phó, trong khi thế và lực lượng của ta ngày càng phát triển. Tháng 8 năm 1951, Trung đoàn 108 chủ lực liên khu nổ súng tiêu diệt cứ điểm Kon Plông, Kon Prai, Đăk Tô, Đăk Glei, phá một số ổ vũ trang, bao vây uy hiếp và bức rút một số đồn bót khác. Tháng 4-1952 quân Pháp mở cuộc hành quân đánh vào khu vực đông Kon Tum- tây Quảng Ngãi nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng và hỗ trợ cho phiến quân Sơn Hà ngóc đầu dậy, nhưng Trung đoàn 108 và 803 đã đánh bại cuộc hành quân, đập tan mọi âm mưu của giặc. Chiến thắng đó cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng Kon Tum, vùng du kích Bắc Tây Nguyên ngày càng được mở rộng.
Giữa tháng 12 năm 1953, kế hoạch tiến công lên Tây Nguyên được thông qua, hướng chính là bắc Kon Tum. Liên khu V sử dụng Trung đoàn 108, 803, Tiểu đoàn 30, liên đội đặc công và toàn bộ các đơn vị pháo cối, phòng không, phần lớn các đơn vị công binh, trinh sát và thông tin. Đêm 27, rạng ngày 28-1-1954, các đơn vị bộ đội đồng loạt nổ súng tiến công ba cứ điểm: Măng Đen, Măng Bút và Kon Prai. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt tại Măng Đen vì đây cứ điểm kiên cố nhất, mấu chốt của cụm phòng thủ đông bắc Kon Tum. Trong ngày 28-1 ta làm chủ ba cứ điểm trên, đến ngày 7 -2 -1954, tỉnh Kon Tum hoàn toàn được giải phóng.
Sau khi Hiệp định Giơ Ne Vơ có hiệu lực, Mỹ- nguỵ ra sức đánh chiếm “vùng cao nguyên trung phần có tính chiến lược” này. Địch tìm mọi cách tiêu diệt các cơ sở cách mạng của ta. Chúng bắt đầu đánh vào khu vực Đăk Tô, Đăk Pet, phong trào cách mạng gặp không ít khó khăn.
Năm 1959, phong trào cách mạng ở Kon Tum đã có bước phục hồi và phát triển, Liên khu uỷ đã chủ trương đưa một bộ phận bộ đội chủ lực của Liên khu phối hợp với quân dân địa phương tiến công tiêu diệt một số đồn bót ở Kon Tum và Gia Lai, trực tiếp hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy diệt ác, phá kiềm, giành chính quyền. Tháng 1 năm 1960, Liên khu uỷ ra Nghị quyết “khẩn trương xây dựng Tây Nguyên và miền tây các tỉnh đồng bằng thành căn cứ địa vững chắc”. Tháng 10, đặc công liên khu phối hợp với các lực lượng vũ trang Kon Tum tiêu diệt đồn Măng Đen, Măng Bút, phong trào cách mạng sục sôi trong toàn tỉnh.
Trong năm 1961, Mỹ tiến hành chiến dịch Stalây-Taylo, Kon Tum trở thành trọng điểm đánh phá của địch nhằm chia cắt hành lang vận tải chiến lược 559, khoá chặt biên giới, xoá căn cứ cách mạng của Quân khu V. Trước tình hình đó, Quân khu dùng một phần bộ đội chủ lực cùng lực lượng vũ trang Kon Tum tiến công phá vỡ một số cụm cứ điểm của địch cắm sâu trong vùng căn cứ của ta, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng căn cứ miền núi, tạo điều kiện cho việc phá kiềm giành dân ở đồng bằng. Tháng 8 năm 1961, ta tiến công quận lỵ Đăk Hà rồi phát triển tiến công nhiều cứ điểm khác của địch, đòn tiến công của ta ở Kon Tum đã làm thông suốt tuyến vận tải chiến lược chạy qua Kon Tum-Gia Lai, mở rộng vùng căn cứ của Quân khu.
Đầu năm 1965, Quân khu V và Mặt trận Tây Nguyên mở cuộc tiến công quy mô lớn, trong đó tây Gia Lai và bắc Kon Tum là một trong ba hướng trọng điểm. Quân ta giải phóng phần lớn các làng dọc hai bên đường 14 từ Đăk Tô đi Đăk Pek và hai bên đường 18 từ Đăk Môn đi Plei Kần, vùng giải phóng được mở rộng về phía tây đường 14. Thất bại trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ đề ra chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Tại Kon Tum, địch mở nhiều cuộc hành quân cỡ trung, lữ đoàn đánh vào căn cứ của ta ở phía bắc và phía tây thị xã Kon Tum nhằm gom dân lập ấp chiến lược, đôn quân bắt lính, phá kho tàng, phát hiện ngăn chặn và phá công tác chuẩn bị tiến công của ta, giải toả giao thông, lập thế phòng thủ mới của chúng. Phong trào cách mạng Kon Tum gặp nhiều khó khăn, tổn thất. Trong các năm 1969 đến 1971, cuộc chiến đấu giữa ta và địch trên chiến trường Kon Tum luôn diễn ra ác liệt.
Năm 1972, ta mở chiến dịch Đăk Tô- Tân Cảnh. Ngày 24-4, Sư đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 1 và Trung đoàn 141) được tăng cường Trung đoàn bộ binh 66, Tiểu đoàn đặc công 37, một đại đội xe tăng và một bộ phận pháo binh, pháo phòng không cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến công cứ điểm Đăk Tô- Tân Cảnh. Kết quả ta đánh quỵ sư đoàn 22 nguỵ, tiêu diệt gần 2000 quân địch, bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng và xe bọc thép, 8 khẩu pháo và gần 100 xe quân sự. Thừa thắng, quân ta tiếp tục đột phá vào thị xã Kon Tum, quân địch ở Kon Tum bị tổn thất nặng. Ta đã đập tan cứ điểm phòng ngự then chốt và vững chắc nhất của địch ở bắc Tây Nguyên.
Đến tháng 3-1975, chiến dịch Tây Nguyên được bắt đầu sau các hoạt động nghi binh, thu hút địch lên hướng Plei Ku, Kon Tum. Mất Ban Mê Thuột, toàn bộ Tây Nguyên rung chuyển. Tại Kon Tum, các lực lượng vũ trang địa phương đã chủ động tiến công tiêu diệt địch, ngày 16-3-1975, tỉnh Kon Tum hoàn toàn giải phóng.
Có thể nói, trải qua hai cuộc kháng chiến, Kon Tum là một trong những chiến trường quan trọng của Tây Nguyên. Cũng qua hai cuộc kháng chiến thần thánh, bộ đội chủ lực Quân khu V đã sát cánh cùng quân dân Kon Tum chiến đấu kiên cường, bất khuất với quân thù, giữ gìn buôn làng, giải phóng quê hương. Sự kiện ngày 16 tháng 3 năm 1975 đối với Đảng bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum là mốc son lịch sử, đánh dấu bước thắng lợi vĩ đại của cuộc chiến tranh vệ quốc trường kỳ, gian khổ, đầy hy sinh mất mát nhưng vô cùng vẻ vang.
Dương Đức Nhuận
Ngục Kon Tum : biểu tượng cho lòng yêu nước, sức mạnh của mảnh đất và con người Kon Tum Nằm ở phía bắc Tây Nguyên, với vị thế địa- chính trị, kinh tế quan trọng, Kon Tum trở thành địa bàn trọng yếu của Tây Nguyên và cả nước trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Hoà mình vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của cả nước, đồng bào các dân tộc tỉnh Kon Tum luôn gắn bó sắt son với cách mạng, tin và đi theo Đảng, Bác Hồ. Những di tích lịch sử cách mạng như: Ngục Kon Tum, Ngục Đăk Glei, chiến thắng Đăk Tô- Tân Cảnh... được lưu giữ đến ngày nay chính là minh chứng sống động cho lòng yêu nước, sức mạnh nội lực của đất và người nơi đây trong hành trình vươn lên cùng đất nước
Đã 78 năm trôi qua kể từ ngày những chiến sĩ cách mạng của thời kỳ 1930-1931 ngã xuống, Kon Tum đang trên đà phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội nhưng hình ảnh những chiến sĩ trung kiên của Đảng vẫn sống mãi cùng di tích lịch sử Ngục Kon Tum.
Ngay sau khi thiết lập xong bộ máy cai trị trên địa bàn tỉnh Kon Tum, năm 1915-1917 thực dân Pháp đã xây dựng tại đây một nhà Lao có quy mô không lớn lắm và cũng không kiên cố nhưng lại là lò giết người tàn bạo nhất của thực dân Pháp ở nước ta thời kỳ 1930-1931. Từ năm 1930-1933, thực dân Pháp đã giam cầm đày ải trên 500 lượt tù chính trị và gần một nửa số đó đã phải nằm lại đây và dọc con đường 14. Đứng trước cái chết đang chờ đón, những người tù chính trị đã phải tìm cho mình một con đường sống. Dù họ biết rằng con đường sống đó cũng có thể trả giá bằng chính sự sống của bản thân cũng như của anh em đồng chí. Song họ hy vọng rằng “sau khi ta chết rồi, họa may mấy anh em mới còn phương sống”, như lời một người tù chính trị tâm sự trước khi bước vào cuộc đấu tranh.
Trong hoàn cảnh bị giam cầm, trong cảnh ngục tù, những người tù chính trị đã chuẩn bị cho mình một phương thức đấu tranh mà mình có thể thực hiện được. “Phản đối đi Đăk Pét”, “phản đối đánh đập, bắn giết tù chính trị”, “phản đối đi làm đường 14”, những khẩu hiệu đó luôn được tù chính trị hô vang mỗi khi đối mặt với súng đạn, với sự tàn bạo của kẻ thù. Để đàn áp cuộc đấu tranh của chính trị phạm phản đối đi làm đường Đăk Pét... ngày 12 tháng 12 năm 1931, thực dân Pháp đã chĩa súng, xả đạn vào những người tù chính trị đang bị giam giữ trong nhà lao, kể cả những người tù chính trị biểu tình tuyệt thực đã 4-5 ngày đêm, không còn sức lực. Vì vậy, chỉ trong vòng mấy phút đồng hồ, trong số 40 người đã có 8 người bị chết, 8 người bị thương. Đó là tội ác hết sức dã man mà bọn cai ngục ở nơi đây - những kẻ đại diện cho chế độ lao tù hà khắc của thực dân Pháp không thể biện hộ, thanh minh được.
Cuộc đấu tranh lưu huyết của những người tù chính trị tại ngục Kon Tum đã thể hiện rõ ý chí kiên cường, bất khuất, không run sợ trước kẻ thù; vẫn không ngừng học tập rèn luyện, trau dồi, nuôi dưỡng ý chí chiến đấu của những chiến sĩ cộng sản; biến nhà tù thực dân thành trường học cách mạng. Cuộc đấu tranh lưu huyết đã chứng minh một chân lý: Sự hà khắc, dã man tàn bạo của kẻ thù chỉ có thể giam cầm, đày đoạ được thể xác chứ không thể dập tắt, giết chết ý chí cách mạng của những người cộng sản. Và, cũng tại nơi này, ngày 25-9-1930, đồng chí Ngô Đức Đệ triệu tập một cuộc họp bí mật tại phòng biệt giam của mình, tuyên bố thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tỉnh Kon Tum...
Ngày nay, Di tích lịch sử cách mạng Ngục Kon Tum mở cửa hàng ngày đón du khách. Từ đường Phan Đình Phùng, thị xã Kon Tum rẽ vào đường Trương Quang Trọng (con đường mang tên một tù chính trị đã hy sinh thay bạn trong cuộc đấu tranh Lưu huyết 12-12-1931) khoảng 800 m, Ngục Kon Tum hiện lên trang nghiêm trước mắt du khách với hàng xà cừ cao vút, biểu hiện sinh động cho ý chí, nghị lực, lòng quả cảm của các chiến sĩ cách mạng . Về với di tích lịch sử Ngục Kon Tum, chúng ta sẽ được tham quan quần thể di tích, bao gồm nhà tưởng niệm, nhà truyền thống, cụm tượng đài “Bất khuất” và hai ngôi mộ tập thể nằm bên bờ sông Đak Bla lộng gió. Chúng ta như được dẫn dắt về với quá khứ lịch sử đấu tranh kiên cường, bất khuất của dân tộc để thấy được nghị lực phi thường của các chiến sĩ cách mạng khi bị thực dân Pháp giam cầm tại đây, đồng thời được sống lại những ngày tháng trọng đại của người dân Kon Tum khi Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh ra đời ngay trong ngục tù thực dân. Ngày nay, di tích Ngục Kon Tum đã trở thành nơi thăm viếng của nhân dân trong và ngoài nước khi đến với Kon Tum. Khu di tích cũng vinh dự được đón các vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước như: Nông Đức Mạnh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Trần Đức Lương, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải... đến thăm.
Những sự kiện xảy ra tại mảnh đất Ngục Kon Tum lịch sử đã thấm thoát trôi qua 2/3 thế kỷ. Vậy mà mỗi khi thăm lại khu di tích, ta vẫn nghe âm vang trong lòng đất những tiếng hô đấu tranh bất khuất đòi tự do, độc lập của những người tù chính trị cộng sản thuở nào. Tổ quốc và những thế hệ con cháu mai sau mãi mãi ghi ơn những tấm gương bất khuất, kiên cường của các liệt sỹ, của các bậc tiền bối. Hơi ấm và nhiệt tình đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của các bậc tiền bối mãi mãi sưởi ấm và khích lệ chúng ta đi tiếp trên chặng đường bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong dòng lưu bút ghi lại cảm tưởng khi tới thăm Ngục Kon Tum, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã viết: “Tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất, anh dũng hy sinh của các đồng chí mãi là tấm gương sáng ngời cho các thế hệ người Việt Nam. Chúng tôi nguyện sẽ tiếp tục sự nghiệp cách mạng, con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN”.
Phương Hằng.
Người Xê Đăng ở vùng Bắc Tây Nguyên với phong trào Khởi nghĩa Tây Sơn Quần thể di tích Tây Sơn thượng đạo bao gồm các cụm di tích: Luỹ An Khê, An Khê Đình, An Khê Trường, Hòn Bình, Hòn Nhược, Hòn Tào, Miếu Xà, Sa khổng lồ, Hồ Bok Nhạc, Núi Hinh Hốt... Các di tích trên được phân bố trên địa bàn các huyện Kon Ch’ro, An Khê thuộc tỉnh Gia Lai, các di tích Vườn Cam, Vườn Mít Cô Hầu thuộc huyện K’Bang tỉnh Gia Lai và một phần huyện Kon Plong tỉnh Kon Tum.
Tư liệu có trong hồ sơ khoa học Di tích Tây Sơn thượng đạo cho biết: Trong đoàn quân Tây Sơn trùng trùng tiến ra Bắc để lập chiến công Ngọc Hồi- Đống Đa chói lọi mùa xuân Kỷ Dậu (1789) có đến hơn 400 thớt voi và hàng ngàn chiến mã... cùng với một đội quân người dân tộc thiểu số Tây Nguyên dũng mãnh và thao lược.
Để có được đội quân dũng mãnh thao lược ấy, anh em nhà Tây Sơn đã phải tốn nhiều công sức cũng như trí tuệ của mình. Những ngày đầu lên lập đồn trại ở Cửu An (1771), Nguyễn Nhạc đã giao du và kết duyên với một cô gái tên là Ya Đố, con một tù trưởng Ba Na giàu có. Chính người vợ thứ 3 này của Nguyễn Nhạc đã có nhiều công lao đối với sự lớn mạnh của nghĩa quân. Bước đầu có sự hỗ trợ của bà Ya Đố, ông Nhạc đã thu phục được những chiến binh người Ba Na, Gia Rai, H’rê... chỉ riêng người Xê Đăng là kiên quyết không theo. Qua nhiều lần cử người đến cầu thân, cuối cùng tù trưởng Xê Đăng là Bok Ki Hơm nói rằng: “Người Xê Đăng không theo ai, chỉ trừ người của Giàng (người nhà trời), nếu ông Nhạc gọi được bầy ngựa Nhà Trời trên núi Hinh Hốt thì người Xê Đăng mới tuân phục và theo ông làm nghiệp lớn.
Chuyện đến tai ông Nhạc, ông ngày đêm suy tính và cuối cùng đem việc đó bàn với người em là Nguyễn Huệ: “Phải thuần phục bầy ngựa để thu phục người Xê Đăng”.
Nhận nhiệm vụ Nguyễn Nhạc giao phó, Nguyễn Huệ quyết tâm thuần phục bầy ngựa trên núi Hinh Hốt. Qua một thời gian tìm kiếm, ông đã có được một con ngựa cái to thật đẹp, lông mượt như nhung, mắt long lanh như ngọc, bốn chân cao thẳng cùng với lọn đuôi dài chớm đất. Huệ cho nó ăn cỏ non, lúa mẩy có pha vào ít nước muối loãng và săn sóc thành thói quen cho nó. Con vật dần dần mến chủ ngày đêm quấn quýt không rời. Thời gian sau Huệ đem con ngựa nhà đã huấn luyện thuần phục thả vào núi Hinh Hốt. Bầy ngựa rừng bắt quen nhất là chú ngựa đực đầu đàn, ngày ngày chúng quấn quýt bên nhau. Những ngày đầu, hễ thấy bóng Huệ là bầy ngựa rừng biến mất. Những lúc đó, Huệ lại vuốt ve, săn sóc và bỏ cỏ non cho ngựa của mình ăn. Để bầy ngựa rừng mau quen với hơi người, có khi ông còn bỏ lại chiếc áo của mình bên cạnh đống cỏ, bầy ngựa rừng bén hơi, sau đó chúng cũng đứng lại ăn cỏ với con ngựa cưng của Huệ và cũng quen dần với thói quen của con ngựa nhà. Hễ nghe tiếng hú của Huệ là tranh nhau chạy lại.
Tin ông Huệ gọi được bầy ngựa nhà trời đã bay đến các buôn làng người Xê Đăng. Vị tù trưởng Xê Đăng chưa tin điều đó, một ngày nọ, họ đến tận nơi để nhìn cho rõ. Quả thật ông Huệ là người Nhà Trời, ông ấy đi tới đâu bầy ngựa đi theo đến đó. Họ về làng tập trung làm kiệu rước 3 anh em nhà Nguyễn Nhạc về làng mổ trâu ăn thề quyết theo Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa. Từ đó trong đội quân Tây Sơn của 3 anh em họ Nguyễn có rất nhiều chiến binh quả cảm người Xê Đăng, họ đã góp phần xứng đáng vào chiến thắng vang dội mùa xuân Kỷ Dậu (1789).
Hơn 200 năm đã trôi qua, người Xê Đăng không còn lưu trú quanh vùng núi Hinh Nốt nữa. Do biến động của lịch sử, họ đã dần dần chuyển cư lên vùng cực bắc Tây Nguyên thuộc địa bàn tỉnh Kon Tum ngày nay. Tuy vậy, người dân vùng Tây Sơn thượng đạo vẫn luôn kể về những chiến công hiển hách của nghĩa quân Xê Đăng trong phong trào khởi nghĩa Tây Sơn. Hơn nữa những chiến công đó đã mãi mãi ghi vào lịch sử của dân tộc, để mỗi mùa xuân về ta lại cùng ghi nhớ chiến công Ngọc Hồi- Đống Đa chói lọi./.
Phan Thanh Bàng
Kỷ niệm 78 năm Ngày truyền thống Đảng bộ tỉnh (25/9/1930-25/9/2008) ĐẢNG BỘ TỈNH KON TUM- những mốc son lịch sử. Ngày 17.3.2006, tại Thông báo số 59–TB/TU, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã quyết định lấy ngày 25.9.1930 – Ngày ra đời của tổ chức Đảng Cộng sản đầu tiên tại tỉnh nhà là Ngày truyền thống Đảng bộ tỉnh Kon Tum. Xin giới thiệu cùng bạn đọc những mốc son lịch sử trong quá trình hình thành và hoạt động của Đảng bộ tỉnh.
1. Sự ra đời của chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Kon Tum (9-1930).
Cuối tháng 9.1930, đồng chí Ngô Đức Đệ, quê ở Hà Tĩnh- đảng viên Tân Việt cách mạng Đảng bị giam cầm tại Ngục Kon Tum, cùng với những người khác do đồng chí giác ngộ và kết nạp vào Đảng như Huỳnh Đăng Thơ, Huỳnh Liễu, Nguyễn Cừ bí mật thành lập chi bộ Cộng sản đầu tiên của tỉnh Kon Tum- còn được gọi là Chi bộ binh. Đến đầu năm 1931, một chi bộ Cộng sản nữa được thành lập là Chi bộ đường phố. Trong khi hai chi bộ đang họat động rất tích cực và đã bàn kế hoạch tiến tới thành lập Tỉnh ủy lâm thời thì một số đảng viên đứng đầu bị bắt. Thực dân Pháp dùng thủ đoạn ly gián làm cho các đảng viên trong Chi bộ binh bị phân tán, mất liên lạc, dần dần bị tan rã; Chi bộ đường phố cũng dần dần bị vô hiệu hóa. Sự ra đời và hoạt động của những chi bộ Cộng sản tuy chỉ diễn ra trong một thời gian rất ngắn (trên 1 năm), nhưng có ảnh hưởng rất to lớn trong phong trào cách mạng của đồng bào các dân tộc tỉnh Kon Tum, là cơ sở nền tảng cho sự ra đời của Đảng bộ tỉnh Kon Tum.
2.Tỉnh uỷ lâm thời được thành lập, lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Sáng ngày 25.8.1945, cùng với khí thế cách mạng sôi sục của nhân dân cả nước, quần chúng nhân dân thị xã Kon Tum đã nổi dậy giành chính quyền. Vì yêu cầu cần thiết là phải có tổ chức Đảng để lãnh đạo xây dựng chính quyền cách mạng vừa mới ra đời, cuối năm 1945, chi bộ Đảng ở Kon Tum được thành lập và thời gian sau thành lập thêm một chi bộ nữa. Tháng 2.1946, Tỉnh ủy Kon Tum lâm thời ra đời trên cơ sở các chi bộ Đảng đã thành lập cuối năm 1945. Giữa năm 1946, thực dân Pháp quay trở lại tấn công xâm lược Kon Tum. Chúng lập tức thành lập lại bộ máy cai trị trong toàn tỉnh. Tỉnh ủy lâm thời đã từng bước lãnh đạo xây dựng lực lượng về mọi mặt, phát triển chiến tranh du kích, tổ chức toàn dân kháng chiến. Ngày 14.2.1954, Kon Tum là tỉnh đầu tiên và duy nhất ở Tây Nguyên được hoàn toàn giải phóng, nối liền với vùng tự do Liên khu V. 3. Lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Kon Tum (1954-1975).
Hiệp định Giơnevơ ký chưa ráo mực, đế quốc Mỹ đã hất cẳng Pháp, lập nên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam, âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Tháng 3.1960, tại núi Ngọc Ang (thuộc dãy Ngọc Linh), làng Mô Gia (nay thuộc huyện Tu Mơ Rông), Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ nhất đã diễn ra. Nghị quyết Đại hội đã khẳng định: “Nỗ lực cao độ để chuyển tình hình cách mạng Kon Tum lên một bước mới, phối hợp chung với Tây Nguyên và toàn miền nổi dậy, tiến công địch, diệt ác, phá kèm, mở rộng quyền làm chủ, xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc...”
Tháng 10.1965, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II tổ chức tại làng Đăk Tơ Viếng, xã Măng Ri, H80 (nay là huyện Tu Mơ Rông) đã tổng kết mọi mặt công tác và sự lãnh đạo của Đảng bộ; đồng thời xác định chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ đánh bại “Chiến tranh cục bộ”; xác định nhiệm vụ trọng tâm là tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, động viên tinh thần và ý chí cách mạng trong toàn Đảng bộ, toàn quân và toàn dân, nỗ lực đánh Mỹ và thắng Mỹ. Tháng 11.1968, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ III đã họp tại xã Đoàn (nay thuộc huyện Đăk Glei). Đại hội đã tổng kết những thành tích to lớn mà quân và dân trong tỉnh đã đạt được và nghiêm khắc kiểm điểm lại những hạn chế, thiếu sót, nhất là trong lãnh đạo cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân, từ đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ của cách mạng trong thời gian tới. Tháng 11.1971, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ IV được tổ chức tại tại làng Kôxia, xã Ngọc Lây, H80 (nay thuộc huyện Tu Mơ Rông) đã tổng kết những thành tựu nổi bật và chỉ ra những khuyết điểm, yếu kém của phong trào địa phương từ sau Đại hội III và đề ra quyết tâm đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ.
Tháng 11.1973, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ V được tổ chức ở làng Đăk Rlâp, xã Đăk Pxy, H80 (nay thuộc huyện Đăk Hà) đã xác định nhiệm vụ chung của toàn Đảng bộ “Kiên quyết đánh bại mọi âm mưu lấn chiếm, kéo xúc dân của địch, giữ vững và mở rộng vùng ta, khẩn trương nỗ lực xây dựng, phát triển lực lượng của ta vững mạnh về quân sự, chính trị, kinh tế (cả vùng ta và vùng địch còn tạm thời kiểm soát), chủ động giành thắng lợi trong mọi tình huống, chuyển lên thế tiến công tiêu diệt địch khi thời cơ đến”. Mùa xuân năm 1975, cùng với toàn miền Nam, quân và dân tỉnh Kon Tum đã tấn công tiêu diệt sào huyệt cuối cùng của địch, giải phóng thị xã Kon Tum ngày 16.3.1975, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
4. Lãnh đạo nhân dân trong tỉnh cùng cả nước xây dựng CNXH, bảo vệ Tổ quốc và bước đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1975-1990).
Cuối năm 1975, Kon Tum và Gia Lai sáp nhập lại thành tỉnh Gia Lai-Kon Tum. Đảng bộ tỉnh thực hiện nhiệm vụ mới, đó là: vừa khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, vừa đấu tranh chống âm mưu gây hấn, lấn chiếm biên giới, tấn công truy quét tàn quân FULRO và các thế lực phản động khác. Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo toàn quân, toàn dân trong tỉnh phấn đấu thực hiện thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế xã hội của các kế hoạch 5 năm 1976-1980, 1981-1985 và đạt được những thành tựu kinh tế quan trọng, giữ vững quốc phòng-an ninh. Dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ tỉnh đã kịp thời làm tốt công tác tư tưởng, củng cố niềm tin vững chắc trong toàn Đảng bộ và quân, dân tỉnh nhà, đoàn kết nhất trí, ra sức thi đua, phấn đấu thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội giai đoạn 1986-1990, bước đầu tạo bước chuyển biến quan trọng trên tất cả các lĩnh vực trong thời kỳ đầu cùng cả nước thực hiện đường lối đổi mới
5. Lãnh đạo nhân dân trong tỉnh tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh phát triển KT-XH theo hướng CNH,HĐH (1991-2008).
Tháng 8.1991, tỉnh Kon Tum được thành lập lại. Khi mới thành lập lại, điều kiện KT -XH của tỉnh thấp kém; đời sống nhân dân còn khó khăn nhiều mặt; đội ngũ cán bộ còn thiếu và yếu. Nhưng, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo quân và dân các dân tộc trong tỉnh tiếp tục thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng. Những Nghị quyết Đại hội X, Đại hội XI, Đại hội XII của Đảng bộ tỉnh đã cụ thể hóa một cách sát hợp chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng vào tỉnh hình cụ thể của địa phương và đạt đựợc những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng.
Tháng 12.2005, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đã diễn ra và thành công tốt đẹp. Trên cơ sở đánh giá những thành tựu đạt đựơc cũng như những mặt hạn chế, thiếu sót từ nhiệm kỳ Đại hội XII, xác định lợi thế và những khó khăn hiện tại, Đại hội đã đề ra quyết tâm cho Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh thời gian tới là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, tăng cường cải cách hành chính, phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc, khai thác mọi nguồn lực, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng tỉnh Kon Tum ổn định, phát triển và sớm thoát nghèo”...
BÀI VIẾT TRẦN TRỌNG KIM,NGUYỄN VĂN THIỆU ,CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ XUNG ĐỘT VIỆT-THÁI
TRẦN TRỌNG KIM
Trần Trọng Kim (chữ Hán: 陳仲金; 1883 – 1953) là một học giả danh tiếng, thủ tướng của Đế quốc Việt Nam (1945) và đầu tiên của Việt Nam, tác giả của Việt Nam Sử Lược.
Tiểu sử
Trần Trọng Kim, nhà giáo dục, nhà biên khảo văn học và sử học Việt Nam, bút hiệu Lệ thần, sinh năm 1883 (Quý Mùi) tại làng Kiều Linh, xã Đan Phố, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Xuất thân trong một gia đình Nho giáo, ông học chữ Hán từ nhỏ. Năm 1897, ông học Trường Pháp-Việt Nam Định, học chữ Pháp. Năm 1900, ông thi đỗ vào Trường thông ngôn và đến 1903 thì tốt nghiệp. Năm 1904, ông làm Thông sự ở Ninh Bình. Năm 1905, ông qua Pháp học trường Thương mại ở Lyon, sau được học bổng vào trường Thuộc địa Pháp. Năm 1909, ông vào học trường Sư phạm Melun và tốt nghiệp ngày 31 tháng 7 năm 1911 rồi về nước. Ông lần lượt dạy Trường trung học Bảo hộ (Trường Bưởi), Trường Hậu bổ và Trường nam Sư phạm.
Ông giữ nhiều chức vụ trong ngành giáo dục thời Pháp thuộc như: Thanh tra Tiểu học (1921), Trưởng ban Soạn thảo Sách Giáo khoa Tiểu học (1924), dạy Trường Sư phạm thực hành 1931, giám đốc các trường nam tiểu học tại Hà Nội (1939).
Trần Trọng Kim còn là Phó trưởng ban Ban Văn học của Hội Khai trí tiến
đức và Nghị viên Hội đồng Dân biểu Bắc Kỳ. Một năm sau khi ông về hưu (1943), Nhật Bản kéo vào Đông Dương và bí mật đưa ông cùng Dương Bá Trạc ra nước ngoài. 1945, ông được đưa về nước. Từ thập niên 1910 đến thập niên 1940, ông cũng viết nhiều sách về sư phạm và lịch sử.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm thuộc địa Đông Dương. Để tranh thủ sự ủng hộ của người Việt, Nhật tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam. Trần Trọng Kim được giao thành lập nội các vào ngày 17 tháng 4 năm 1945. Đây là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và Trần Trọng Kim trở thành Thủ tướng đầu tiên của Việt Nam.
Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam; đặt quốc thiều là bài "Đăng đàn cung"; quốc kỳ có "nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm".
Chính phủ
Trần Trọng Kim thực chất vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội Nhật chiếm
đóng Đông Dương, vì vậy có nhiều người cho rằng đây chỉ là một chính
phủ bù nhìn thân Nhật và không có được sự ủng hộ của dân chúng. Khi quân
Nhật đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim cũng chỉ tồn tại được đến ngày 23 tháng 8
năm 1945 thì sụp đổ. Tuy nhiên, trong thời gian ngắn ngủi, chính phủ
này cũng đã làm được một việc quan trọng là thống nhất về mặt danh nghĩa
đất Nam Kỳ vào đất nước Việt Nam; và thay chương trình học bằng tiếng
Pháp sang chương trình học bằng tiếng Việt, do học giả Hoàng Xuân Hãn biên soạn. Bộ trưởng Bộ thanh niên Phan Anh
đã thành lập đoàn Thanh niên Tiền tuyến, Thanh niên Xã hội. Trường
Thanh niên tiền tuyến đã đào tạo ra nhiều tướng lĩnh, sĩ quan của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này.
Sau khi Việt Minh giành được chính quyền và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, Trần Trọng Kim lưu vong ra nước ngoài. Sau nhiều năm tháng long đong ở Quảng Châu và Hồng Kông, ngày 6 tháng 2 năm 1947, ông trở về Sài Gòn và sống tại nhà luật sư Trịnh Đình Thảo. Năm 1948, ông qua Phnom Penh và sống với người con gái. Sau đó, ông lại trở về Việt Nam sống thầm lặng và mất tại Đà Lạt vào ngày 2 tháng 12 năm 1953, thọ 71 tuổi.
Trần Trọng Kim được đánh giá là một học giả uyên thâm cả tân và cựu học, là người tận tụy cho ngành giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ 20.
Tuy nhiên, ông là người có tư tưởng bảo thủ và dân tộc - bảo hoàng. Tác
phẩm Việt Nam sử lược được đánh giá là một trong những quyển sử Việt
Nam có phong cách ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu, được tái bản nhiều lần.
Tác phẩm
Trước năm 1945, Trần Trọng Kim có nhiều tác phẩm nổi tiếng thời bấy giờ về các lĩnh vực sử học, nghiên cứu và sư phạm gồm:
- Sơ học luân lý\ (1914),
- Vương Dương Minh (1914),
- Luân lý giáo khoa thư (1916)
- Sư phạm khoa yếu lược (1916),
- Việt Nam sử lược (1919),
- Truyện Thúy Kiều chú giải (1925)
- Nho giáo (1930),
- Phật Lục (1940),
- Quốc văn giáo khoa thư, 3 tập: lớp Đồng ấu, Dự bị, và Sơ đẳng (soạn cùng Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận; Nam Sơn Nguyễn Văn Thọ vẽ)
- Việt Nam văn phạm (cùng Bùi Kỷ, Nguyễn Mạnh Tường) (1941).
Sau năm 1945, ông viết hồi ký:
- Một cơn gió bụi (1949)
NGUYỄN VĂN THIỆU
Nguyễn Văn Thiệu (5 tháng 4 năm 1923 – 29 tháng 9 năm 2001) là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa thời kỳ 1965-1967 và Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa thời kỳ 1967-1975.
Tiểu sử
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu quan sát bản đồ Đông Á
Thân thế
Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 5 tháng 4 năm 1923, tại làng Tri Thủy, xã Tân Hải, huyện Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Ông có hai người anh: Nguyễn Văn Hiếu và Nguyễn Văn Kiểu. Nguyễn Văn Hiếu thời Đệ nhị Cộng hòa được bổ làm đại sứ ở Ý còn Nguyễn Văn Kiểu làm đại sứ ở Đài Loan.[1]
Gia nhập quân đội
Sau khi tốt nghiệp lớp 9, ông Thiệu lên Sài Gòn để học nghề. Tuy nhiên, không lâu sau, ông đăng ký vào khóa đầu trường Sĩ quan quân đội Việt Nam, sau trở thành trường Võ bị Đà Lạt. Năm 1949, ông tốt nghiệp với quân hàm Thiếu úy, tham gia binh nghiệp trong lực lượng người Việt trong quân đội Liên hiệp Pháp.
Sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam, năm 1955 ông gia nhập Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, với quân hàm Trung tá, giữ chức Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt. Đến năm 1962, ông giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh, hàm Đại tá.
Tham gia đảo chánh, chấp chính quốc trưởng
Năm 1963, ông tham gia lực lượng đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Sau đảo chính, ông được phong hàm Thiếu tướng. Khi tướng Nguyễn Khánh thực hiện "chỉnh lý", nắm quyền lãnh đạo chính quyền, ông được cử giữ chức Tham mưu trưởng sau đó được cử giữ chức Tổng trưởng Quốc phòng. Năm 1965, ông được thăng Trung tướng. Cũng năm này, chính phủ của Thủ tướng Phan Huy Quát đã giải tán và trao quyền lãnh đạo quốc gia lại cho Hội đồng Quân lực. Hội đồng tướng lĩnh đã bầu ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia và tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương. Ông trở thành quốc trưởng và tướng Kỳ trở thành thủ tướng của chính phủ mới.
Thành lập Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong ngày nhậm chức nền đệ nhị cộng hoà 1967 (giữa)
Năm 1967, Nguyễn Văn Thiệu được bầu làm tổng thống, mở ra nền Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam, với 38% số phiếu. Ông giữ chức này cho đến khi chính thể Đệ nhị Cộng hòa sắp sụp đổ vào cuối Tháng Tư năm 1975 (Xem Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975). Thời kỳ này chính phủ Việt Nam Cộng Hòa càng lệ thuộc vào sự giúp đỡ của Hoa Kỳ nhiều hơn cả chính phủ tiền nhiệm của Ngô Đình Diệm. Ông Thiệu là người sáng lập đảng Dân chủ (Việt Nam). Ông đã tập trung quyền lực vào ngành hành pháp trong khi làm suy yếu quyền của ngành lập pháp (quốc hội).
Năm 1969, Tổng thống Thiệu kêu gọi hòa bình bằng cách đề nghị bầu cử bao gồm cả lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhưng phó Tổng thống Kỳ đã cảnh báo rằng bất kỳ nỗ lực nào để Liên minh với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đều rất nguy hiểm. [2]
Cũng trong năm này, Nguyễn Văn Thiệu đã vượt quyền hiến pháp, cụ thể là
điều luật quy định sự bất khả xâm phạm của dân biểu, để bắt giữ và mở tòa án quân sự kết án dân biểu Trần Ngọc Châu
10 năm khổ sai, sau khi vị dân biểu này đề nghị lập một đoàn gồm các
nhà lập pháp Việt Nam Cộng hòa ra Bắc để đàm phán với Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa.[3]Năm
1971, Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử tổng thống. Sau cố gắng bất
thành của Nguyễn Văn Thiệu trước kia nhằm gạt hẳn Nguyễn Cao Kỳ ra khỏi
cuộc đua, trong kỳ này Dương Văn Minh rút lui không tham gia tranh cử và
Nguyễn Cao Kỳ cũng từ chối ra tranh cử nên cuộc bầu cử chỉ có một ứng
cử viên. Huy hiệu nhậm chức nhiệm kỳ 71-75
Kết quả là Nguyễn Văn Thiệu đạt được 94% số phiếu.[4]
Năm 1973, sau khi ký kết Hiệp định Paris,
Mỹ triệt thoái hoàn toàn quân đội ra khỏi miền Nam. Một thời gian ngắn
sau đó Hoa Kỳ cũng cắt giảm hầu hết các kinh phí viện trợ cho chính
quyền Việt Nam Cộng Hòa khiến khả năng quân sự của chính quyền bị suy
giảm nặng. Tháng 3 năm 1975, sau khi Ban Mê Thuột (nay gọi là Buôn Ma Thuột)
bị quân đội chính qui miền bắc đánh chiếm và quân đội miền nam phản
kích thất bại, Nguyễn Văn Thiệu tỏ ra lúng túng rồi quyết định rút bỏ Cao nguyên Trung phần.
Sai lầm chiến lược đó đã đưa đến những cuộc tháo chạy hỗn loạn khỏi các
tỉnh Tây Nguyên và bị Quân giải phóng miền Nam tấn công gây thiệt hại
nặng. Sau đó các tỉnh duyên hải miền Trung cũng thất thủ.
Khi các lực lượng quân sự của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam sắp giành được chiến thắng, ông từ chức vào ngày 21 tháng 4 năm 1975, 9 ngày trước khi Việt Nam Cộng hòa đầu hàng vô điều kiện. Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay làm tổng thống.
Lưu vong
Đêm 25 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu rời Việt Nam với tư cách là đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa đến Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch.
Khi ông rời bỏ đất nước ra đi, khắp Sài Gòn ,từ dân chúng đến giới báo
chí lúc đó xôn xao tin đồn rằng Nguyễn Văn Thiệu đã đem theo 16 tấn vàng trong ngân khố quốc gia ra nước ngoài. Sau đó, ông đến Anh định cư. Ông sống một cuộc sống thầm lặng trong quãng đời còn lại và qua đời vào ngày 29 tháng 9 năm 2001 tại Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ.
Nguyễn Văn Thiệu và Hiệp định Paris
Ông chính là người phản đối quyết liệt nhất việc ký kết Hiệp định Paris vào lúc đó, vì theo ông việc đó sẽ làm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có được lợi thế đáng kể so với Việt Nam Cộng hòa.
Cụ thể là người Mỹ sẽ chấm dứt những cam kết và ủng hộ của mình đối với
Việt Nam Cộng hòa, đồng nghĩa với việc viện trợ cho chính phủ của ông
bị cắt giảm và ưu thế quân sự sẽ nghiêng về phía Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa. Nguyễn Văn Thiệu đã cố tình trì hoãn việc đồng ý ký kết hiệp định,
nhưng phía Mỹ đã có quyết định dứt khoát về việc này và gây áp lực cho
chính phủ của ông, trong thư của Tổng thống Nixon gửi ông vào ngày 16
tháng 1 có đoạn: "Tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt hiệp định vào
ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần tôi sẽ làm đúng như nói trên
một mình. Trong trường hợp đó tôi phải giải thích công khai rằng chính
phủ của ông cản trở hòa bình. Kết quả sẽ là sự chấm dứt không tránh khỏi
và lập tức viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ - và một sự thay đổi
nhân sự trong chính phủ của ông khó mà nói trước". Kết quả là Nguyễn Văn
Thiệu chấp nhận ký kết hiệp định một cách miễn cưỡng, mặc dù đã được
phía Mỹ cam kết sẽ đảm bảo sự tồn tại của Việt Nam Cộng hòa.
Nhận xét
Nguyễn
Văn Thiệu có ý kiến chống đối với chính phủ Mỹ về văn bản chính thức
của Hiệp định Paris, thực tế sau này cho thấy nhận thức của ông về sự
thất bại có thể xảy ra cho miền Nam nếu chấp nhận văn bản đó là đúng
đắn. (Cuối cùng, dưới áp lực của Mỹ, chính phủ của Việt Nam Cộng hòa đã
bị buộc kí vào hiệp định Paris). Ông là vị nguyên thủ quốc gia có thái
độ cứng rắn với Cộng sản với Lập trường bốn không:
không chấp nhận, không thương lượng, không liên hiệp và không nhượng
đất cho Cộng sản. Ông bị nhiều tai tiếng như vụ 16 tấn vàng và khả năng
lãnh đạo quân sự .
Trong
những năm tại vị, Ngày 26 tháng 3 năm 1970, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
đã ký tại Cần Thơ lệnh số 003/60 ban hành luật "Người Cày Có Ruộng". Ông
nói: "Hôm nay là ngày vui sướng nhất của đời tôi".
Hình trên tem: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong ngày nông dân Việt Nam
Báo chí Hoa Kỳ hết lời ca ngợi, tờ Washington Evening Star
gọi đó là "Tin tức tốt đẹp nhất đến từ Việt Nam kể từ khi kết thúc sự
chiếm đóng của người Nhật". . Còn tờ New York Times cho rằng "Có lẽ đây
là cuộc cải cách ruộng đất không cộng sản mang nhiều tham vọng và tiến
bộ nhất của thể kỷ 20".Theo ông Nguyễn Tiến Hưng trong sách Khi đồng minh tháo chạy:
"Nhiều quan sát viên quốc tế đã cho chương trình "Người Cày Có Ruộng"
là một trong những chương trình cải cách điền địa thành công nhất ở các
nước hậu tiến. Nó là điểm vàng son của nền Đệ nhị Cộng hòa". Chương
trình này đã tạo ra một tầng lớp tiểu nông đông đảo, thúc đẩy kinh tế
hàng hóa trong nông nghiệp phát triển. Nông dân hăng hái sản xuất và
năng suất lao động trong sản xuất lúa gạo tăng lên nhanh chóng. Đời sống
của nông dân được cải thiện.
Đánh giá của người trong cuộc
Tướng Cao Văn Viên, trong một cuộc phỏng vấn lúc cuối đời, đã có một số nhận xét về Nguyễn Văn Thiệu cũng như so sánh giữa Nguyễn Văn Thiệu và Ngô Đình Diệm
"Mỗi người độc tài theo cách
riêng. TT Diệm cai trị nước như một quan lại của thời quân chủ, ông bẩm
sinh chống cộng, tự ban cho mình “thiên mạng” cứu nước. ”
TT Diệm tự hào về dân tộc, tự
đại về gia đình, thích độc thoại, không chấp nhận dễ dàng sự chỉ trích.
Ông chủ trương “tiết trực tâm hư ” nhưng bị ảnh hưởng nặng của gia đình.
Còn ông Thiệu thì theo đường lối “độc tài trong dân chủ”, bên trong chi
phối cả hai ngành lập pháp và tư pháp. Bàn tay sắt trong đôi găng
nhung.
Vì không vững kiến thức như ông
Diệm, ông Thiệu chịu khó thăm dò ý kiến của các chuyên viên, lắng nghe,
đúc kết lại để quyết định một mình. TT Diệm dễ tin người xu nịnh nên dễ
bị phản trắc. Ông Thiệu đa nghi Tào Tháo và không e ngại ban phát ân
huệ để tạo phe cánh và chia rẽ đối phương như ông đã làm tại Quốc hội.
Ông chủ trương “làm chính trị phải lì”. Bởi thế TT Thiệu “lật” ông Kỳ không khó và tồn tại lâu hơn TT Diệm nhưng ông không khí khái bằng ông Diệm. Ông Thiệu mưu sĩ, ông Diệm đạo đức.
Câu nói nổi tiếng
- Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm!
- Ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản - Biếm chỉ Cộng sản nằm vùng khủng bố miền Nam Việt Nam trước năm 1975
- Công đức ngàn đời con tố mẹ, tình nghĩa trăm năm vợ tố chồng - Biếm chỉ chính sách đấu tố của Cộng sản
- Đất nước còn, còn tất cả; cộng sản thắng, mất tất cả.
- Đất nước còn ta không còn cũng được, đất nước không còn ta có cũng như không - Động viên thanh niên tham gia quân lực.
- Tôi mà tham nhũng thì cái chính phủ này sẽ sụp đổ chỉ trong 3 ngày!
- Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập![cần dẫn nguồn]
- Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn với Mỹ thì rất khó.
- Sống không có tự do là đã chết.
- Mỹ còn viện trợ, thì chúng ta còn chống Cộng.[cần dẫn nguồn]
Giai thoại 16 tấn vàng
Trước và sau năm 1975 báo chí loan tin tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước khi ra đi đã mang theo 16 tấn vàng
là tài sản quốc gia. Giai thoại này lan truyền rất rộng rãi nhưng không
có xác nhận hay phủ nhận chính thức của chính quyền. Đến năm 2006, báo
Tuổi trẻ đã thực hiện một loạt phóng sự điều tra xác nhận rằng toàn bộ
số vàng (1234 thỏi) và tiền mặt (hơn 1000 tỷ đồng) đã được bàn giao cho
Ban Quân quản "khớp với sổ sách từng chi tiết nhỏ" [5], như vậy ông Thiệu không có đem vàng của quốc gia đi.
Ông Lữ Minh Châu
nguyên Trưởng ban Quân quản các ngân hàng Sài Gòn - Gia Định, là người
tổ chức tiếp quản toàn bộ tiền, vàng của chế độ Sài Gòn cũ cũng xác nhận
16 tấn vàng, tiền dự trữ và châu báu, nữ trang còn nguyên và được
chuyển vào tài sản quốc gia
Chiến tranh bien giới tây nam
. Chiến dịch phản công biên giới Tây - Nam là một loạt các chiến dịch quân sự do Việt Nam tiến hành nhằm trả đũa các hoạt động quân sự của quân Khmer Đỏ tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, giết chóc người dân và đốt phá làng mạc Việt Nam trong những năm 1975-1978.
Bối cảnh
Sau Chiến tranh Việt Nam, Việt Nam và Campuchia xuất hiện nhiều mâu thuẫn. Tranh chấp và xung đột biên giới xẩy ra liên tục trong các năm 1977 và 1978, nhưng cuộc xung đột thực ra đã bắt đầu ngay sau khi Sài Gòn thất thủ. Ngày 4 tháng 5 năm 1975, một toán quân Khmer Đỏ đột kích đảo Phú Quốc, sáu ngày sau quân Khmer Đỏ đánh chiếm và hành quyết hơn 500 dân thường ở đảo Thổ Chu[4].
Tức giận vì hành vi gây hấn của Khmer Đỏ, Hà Nội phản công giành lại
các đảo này. Trận đánh ở Phú Quốc làm nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam mới thành lập lo ngại, vì cùng thời gian đó, quan hệ Việt Nam
và Trung Quốc đang xấu đi. Mối lo ngại này càng tăng thêm vì sự hiện diện của cố vấn Trung Quốc ở Campuchia và Trung Quốc tăng cường viện trợ quân sự cho lực lượng vũ trang Khmer Đỏ
Tiếp theo
cuộc đột kích vào các đảo Thổ Chu và Phú Quốc, bên cạnh nhiều cuộc đột
kích nhỏ, Khmer Đỏ tiến hành hai cuộc xâm nhập qui mô lớn vào Việt Nam.
Cuộc tấn công lớn đầu tiên diễn ra vào tháng 4 năm 1977, quân chính qui
Khmer Đỏ tiến sâu 10 km vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm một số vùng ở tỉnh An Giang
và tàn sát một số lớn dân thường. Cuộc tấn công thứ hai diễn ra vào
ngày 25 tháng 9 cùng năm, lần này 4 sư đoàn quân Khmer Đỏ đánh chiếm
nhiều điểm ở các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành (tỉnh Tây Ninh),
đốt phá 471 ngôi nhà, làm gần 800 người dân bị giết, bị thương hoặc mất
tích. Để trả đũa, ngày 31 tháng 12 năm 1977, sáu sư đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh vào sâu trong đất Campuchia đến tận Neak Luong rồi mới rút lui từ ngày 5 tháng 1 năm 1978, mang theo một số nhân vật quan trọng bên phía Campuchia, trong đó có cả Thủ tướng tương lai Hun Sen.
Cuộc tấn công này được xem là lời "cảnh cáo" cho Khmer Đỏ. Phía Việt
Nam đề nghị một giải pháp ngoại giao nhằm thiết lập một vùng phi quân sự
dọc biên giới, nhưng Pol Pot từ chối, và giao tranh tiếp diễn.
Ngày 1 tháng 2 năm 1978, Trung ương Đảng Cộng sản của Pol Pot
họp bàn chủ trương chống Việt Nam và quyết định thành lập 15 sư đoàn.
Trong nghị quyết của họ có ghi: "Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi
tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10, 15, đến
20 năm. Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu
diệt 50 triệu[7] người Việt Nam"[8].
Pol Pot đã điều 13 trong số 17 sư đoàn chủ lực và một số trung đoàn địa
phương liên tục tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, có nơi vào sâu tới
15-20 km. Trong các đợt tấn công đó, Khmer Đỏ đã thực hiện thảm sát đối
với người Việt Nam, một ví dụ là vụ thảm sát Ba Chúc vào tháng 4 năm 1978 với 3157 dân thường bị giết hại.
Từ tháng
12 năm 1977 đến 14 tháng 6 năm 1978, theo số liệu không chính thức từ
một nhà nghiên cứu hải ngoại, phía Việt Nam bị thương vong 30.642 bộ
đội, trong đó số chết là 6902 người. Hơn 30 vạn người phải tản cư về
phía sau, bỏ hoang 6 vạn ha đất sản xuất. CÒn theo cuốn "Cuộc chiến
tranh bắt buộc" của một Đại tá QDNDVN,có thể ước lượng Việt Nam bị
thương vong 8.500 bộ đội, trong đó số chết là gần 3.000 người[9].
Ngày 13 tháng 12 năm 1978, được sự trang bị và hậu thuẫn của Trung Quốc,
Khmer Đỏ đã huy động 10 trong 19 sư đoàn (khoảng 50.000 đến 60.000
quân) tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới. Ba sư đoàn
đánh vào Bến Sỏi với mục tiêu chiếm thị xã Tây Ninh, 2 sư đoàn đánh vào Hồng Ngự (Đồng Tháp), 2 sư đoàn đánh khu vực Bảy Núi (An Giang), 1 sư đoàn đánh Trà Phô, Trà Tiến (Kiên Giang). Tại những vùng chiếm đóng, Khmer Đỏ đã thực hiện sách lược diệt chủng đối với người Việt, như đã làm với người Khmer.
Quân đội
Việt Nam đã chống trả quyết liệt và đã kìm chân bước tiến, đồng thời
tiêu hao sinh lực của quân Khmer đỏ. Các hướng tiến quân của Khmer Đỏ bị
chặn lại và không thể phát triển được. Ngoại trừ Hà Tiên
bị chiếm giữ trong thời gian ngắn, không một thị xã nào của Việt Nam bị
chiếm. Theo thống kê từ Việt Nam, từ tháng 6-1977 đến tháng 12-1978, họ
đã tiêu diệt 38.563 quân Khmer đỏ, bắt sống 5.800 lính khác[10].
Lực lượng hai bên
Việt Nam[11]
- Quân đoàn 2 của thượng tướng Nguyễn Hữu An, chính ủy Lê Linh, gồm các Sư đoàn 304, 325, được bổ sung Trung đoàn bộ binh 8, cũng từ Tịnh Biên (An Giang - Hà Tiên) đánh theo hướng tây để hỗ trợ lực lượng Quân khu 9 đánh về Phnom Penh, chiếm Kampot và vùng duyên hải Đông Nam Campuchia. Sư đoàn 306 mới thành lập không kịp tham gia chiến dịch vì chưa hoàn thành công tác huấn luyện[12]. Cũng như tại mặt trận Tây Ninh, tại An Giang, quân Việt Nam cũng chia quân tấn công hai hướng. Hướng thứ nhất theo Quốc lộ 2 tiến về hướng Bắc đánh về Phnom Penh. Hướng thứ hai tiến theo duyên hải về hướng Tây đánh chiếm hải cảng Kompong Som, Sư đoàn 304 được dùng làm trừ bị, cố thể được dùng tăng cường trong trường hợp Quân đoàn 4 tấn công Phnom Penh gặp khó khăn.
- Quân đoàn 3 của tướng Kim Tuấn, gồm các Sư đoàn 10, 31, 320, được bổ sung Sư đoàn 302, đánh từ Tây Ninh, vượt qua tỉnh Kampong Cham đến sông Mê Kông và vùng lãnh thổ đông bắc Campuchia.
- Quân đoàn 4 của thượng tướng Hoàng Cầm, gồm các Sư đoàn 7, 9, 341, được bổ sung thêm Sư đoàn 2, cùng Lữ đoàn 22 thiết giáp, Lữ đoàn 24 pháo binh, Lữ đoàn 25 công binh và 3 tiểu đoàn Khmer thân Việt Nam (UFNSK), hướng tấn công từ hướng tây và tây nam Tây Ninh, sau khi đã tái chiếm những vị trị trên tỉnh lộ 13, theo đường 1 qua tỉnh Svay Rieng nhắm đánh bến phà chiến lược Neak Luong để đến Phnom Penh.
- Quân khu 5: gồm hai Sư đoàn 307, 309 và Lữ đoàn đặc công 198, đánh từ Pleiku theo đường 19 về hướng Tây để tiêu diệt quân Khmer Đỏ ở Đông Bắc Campuchia.
- Quân khu 7: gồm hai Sư đoàn 5, 302, 303, Trung đoàn đặc công 117, được tăng cường thêm một số đơn vị của Quân đoàn 3 như Lữ đoàn 12 thiết giáp, những trung đoàn chủ lực các tỉnh Tây Ninh, Long An, Sông Bé, Trung đoàn 262 pháo binh, Trung đoàn 26 thiết giáp, 3 tiểu đoàn Khmer UFNSK từ phía bắc tỉnh Tây Ninh và khu căn cứ của UFNSK quanh Snuol tiến quân dọc theo Quốc lộ 13 và Quốc lộ 7 đánh chiếm Kratié và Kampong Cham.
- Quân khu 9: gồm các Sư đoàn 4, 330, 339, tấn công từ khu vực Tịnh Biên ở hướng Bắc, qua tỉnh Ta Keo, hướng về Phnom Penh
- Lực lượng đổ bộ đường biển gồm Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 và Lữ đoàn hải quân đánh bộ 101 đổ bộ vào vùng duyên hải Đông Nam Campuchia để chiếm Ream và cảng Sihanoukville trên bán đảo Kampong Som.
- Đoàn 901 không quân: gồm Sư đoàn không quân 372 được trang bị máy bay F-5, A-37, máy bay trực thăng UH-1, máy bay vận tải C-130, C-119, C-47, và một phân đội MiG-21 từ Trung đoàn 921.
Các sư đoàn Việt Nam đều có các đơn vị cơ hữu thiết giáp, pháo binh, pháo phòng không và một lữ đoàn công binh.
Theo phía Việt Nam, có 10.000 - 15.000 quân UFNSK tham gia chiến dịch,
tuy nhiên theo các phân tích viên quốc tế, đây là con số phóng đại, chỉ
có chừng vài trăm quân UFNSK trực tiếp tham gia chiến dịch, còn lại đại
bộ phận làm công tác liên lạc, đảm bảo hậu cần, phiên dịch...
Campuchia
Theo
phía Việt Nam, lực lượng Khmer Đỏ gồm có 19 sư đoàn, theo tác giả
Steven Heder, quân Khmer Đỏ gồm chừng 15 sư đoàn. Các sư đoàn này được
trang bị tốt bằng vũ khí của Trung Quốc, được chỉ huy bởi các chỉ huy
dày dạn kinh nghiệm trong các cuộc chiến tranh vừa qua, gồm nhiều binh
lính trung thành đến cuồng tín, nhưng các sư đoàn này cũng đã bị nhiều
hao tổn trong những lần giao tranh trước, và quân số mỗi sư đoàn chỉ
chừng dưới 4.000 người, gần bằng nửa quân số của sư đoàn Việt Nam.
Các sư đoàn: 164, 170, 290, 310, 450, 703, 801, 902
- Một số máy bay chiến đấu T-28.
- Một phân đội MiG-19 do Trung Quốc sản xuất, số Mig-19 này không kịp tham chiến vì không có phi công và rơi vào tay quân Việt Nam khi họ chiếm Phnom Penh[14]
- Một sư đoàn thủy quân lục chiến
- Một sư đoàn hải quân
- Một sư đoàn không quân, nhưng chiến đấu như bộ binh khi giao tranh nổ ra.
- Nhiều đơn vị xe tăng và trọng pháo.
Chiến dịch phản công
Diễn biến chiến dịch
Tới đầu
tháng 12 năm 1978, quân đội Việt Nam được hỗ trợ bởi một số tiểu đoàn
Khmer thân Việt Nam đã kiểm soát một vùng đệm dọc biên giới trong lãnh
thổ Campuchia, từ Mimot đến Snuol ở các tỉnh Kampong Cham và Kratié[15]. Ở phía Bắc, quân Việt Nam cũng kiểm soát một vùng rộng thuộc lãnh thổ Campuchia dọc theo đường 19[16].
Ngày 23 tháng 12 năm 1978, sau khi được tăng viện, với 80.000 quân,
quân đội Việt Nam đã tiến hành phản công trên toàn bộ mặt trận, đẩy lùi
quân Khmer Đỏ. Sư đoàn 2 cùng trung đoàn chủ lực tỉnh Tây Ninh mở cuộc
tấn công nhằm đánh bật các Trung đoàn 23 thuộc Sư đoàn 304 và Trung đoàn
13 thuộc Sư đoàn 221 của Campuchia ra khỏi các vị trí dọc theo tỉnh lộ
13 sát biên giới. Tuy nhiên chiến cuộc chưa chấm dứt, quân đội Việt Nam
quyết định mở cuộc tấn công phòng ngừa vào Campuchia.
Đánh chiếm bờ đông sông Mekông
Chiến dịch biên giới Tây Nam 12/1978 - 1/1979
Sau khi
đánh tan sức kháng cự của quân Khmer Đỏ, các lực lượng Việt Nam thuộc
Quân khu 5 nhanh chóng hành tiến theo đường 19, sư đoàn 309 quét sạch tỉnh Ratanakiri, phía Bắc tỉnh Mondolkiri và tiến vào phía Bắc tỉnh Stung Treng. Sư đoàn 307 tiến theo đường 19, dùng cầu phao vượt sông Srepok và sông Mekong. Tới ngày 1 tháng 1 năm 1979, lực lượng Quân khu 5 tiến dọc sông Mekong chiếm được Stung Treng.
Cùng thời
gian, Sư đoàn 5 thuộc Quân khu 7 tiến từ hướng đông, cùng Sư đoàn 303
tiến theo hướng tây bắc từ Snuol cùng đánh vào Kratié do Sư đoàn 260 và 2
trung đoàn địa phương của đặc khu 505 phòng thủ. Các sư đoàn này gặp
phải sức kháng cự quyết liệt từ phía quân Khmer Đỏ. Trong cuộc tiến
quân, hai Tiểu đoàn 1 và 2 Trung đoàn 316 Sư đoàn 303 bị tập kích bất
ngờ nên bị tiêu diệt. Trung đoàn này, cũng như Trung đoàn 33, sau một
tháng hành quân, quân số hao hụt mất một nửa Các đơn vị quân Khmer Đỏ
tấn công Sư đoàn 303 gây nhiều tổn thất và suýt chiếm được sở chỉ huy sư
đoàn. Tuy nhiên, sau khi không chặn được quân Việt Nam, quân Khmer Đỏ
phải rút lui, và tới ngày 29 tháng 12, thành phố Kratié
rơi vào tay quân đội Việt Nam. Cùng lúc, Sư đoàn 302 tiến về phía Tây
đã chiếm được Kampong Cham. Sau đó, hai Sư đoàn 302 và 303 cùng quay lại
đánh chiếm thị xã Chhlong
do Sư đoàn 603 Khmer Đỏ chống giữ. Ngày 4 tháng 1, họ chiếm được
Chhlong. Kể từ lúc đó, toàn bộ lãnh thổ Campuchia ở phía đông sông
Mekong coi như bị mất.
Sáng ngày
31 tháng 12, được pháo binh bắn yểm trợ, xe tăng và bộ binh Quân đoàn 3
Việt Nam tiến công và nhanh chóng đánh tan 5 sư đoàn quân Khmer Đỏ trên
toàn tuyến phòng thủ dọc theo biên giới ở tỉnh Kampong Cham. Tới cuối
ngày, trừ sở chỉ huy quân Khmer Đỏ, toàn bộ các cứ điểm còn lại thất
thủ, quân Khmer Đỏ rút chạy về thị trấn Kampong Cham ở bờ tây sông
Mekong, bị quân Việt Nam truy kích ráo riết.
Không quân Việt Nam cũng tham chiến, tấn công vào tuyến phòng thủ của Khmer Đỏ và ném bom phá hủy một sân bay mà từ đó máy bay T-28
Khmer Đỏ xuất kích ném bom vào các toán quân tiền phương Việt Nam. Sáng
ngày 1 tháng 1 năm 1979, sau khi tập hợp lại lực lượng, Quân đoàn 3
đánh chiếm sở chỉ huy Khmer Đỏ sau một giờ giao chiến quyết liệt. Tướng
Kim Tuấn hạ lệnh cho các đơn vị dưới quyền truy quét và tiêu diệt các
lực lượng Khmer Đỏ còn sót lại. Tới ngày 3 tháng 1, Sư đoàn 320 đã tiến
tới bờ đông của bến phà Kampong Cham bên bờ sông Mekong. Tại đây sư đoàn
dừng lại, rồi dùng 2 đại đội xe bọc thép mở đường, đánh về phía nam chiếm thủ phủ tỉnh Prey Veng.
Trong thời gian đó, ngày 28 tháng 12, ở hạ lưu đồng bằng sông Mekong,
lực lượng Khmer Đỏ thuộc Quân khu Đông Nam mở cuộc tấn công phòng ngừa
dọc biên giới. Quân Khmer Đỏ tiêu diệt một số đơn vị Quân khu 9 bảo vệ
biên giới và chiếm một vùng rộng lãnh thổ Việt Nam dọc theo kênh Vĩnh Tế. Cuộc tấn công này làm cho tình hình Quân đoàn 2 của tướng Nguyễn Hữu An
trở nên rất khó khăn. Quân Khmer Đỏ đã chiếm được khu vực đầu cầu mà
Quân đoàn 2 và lực lượng Quân khu 9 định dùng để tiến vào Campuchia,
đồng thời giành được một chiến lũy tự nhiên cản đường tiến của quân Việt
Nam.
Sau khi
nhận được sự chấp thuận từ Bộ chỉ huy, sáng ngày 31 tháng 12, sư đoàn 4
của Quân khu 9 và Trung đoàn 9 của Sư đoàn 304 phối thuộc mở cuộc phản
công. Sau 24 giờ giao tranh kịch liệt, quân Việt Nam đã đánh lui quân
Khmer Đỏ khỏi bờ tây kênh Vĩnh Tế.
Chiều ngày 1 tháng 1, được pháo binh và không quân yểm trợ, Lữ đoàn
công binh 219 thuộc Quân đoàn 2 bắc cầu phao vượt sông. Sư đoàn 304 và
Lữ đoàn xe bọc thép 203 mở đường tiến vào đất Campuchia. Tới trưa ngày 3
tháng 1, Quân đoàn 2 và Quân khu 9 đã tiêu diệt hoặc đánh tan tất cả
các lực lượng Khmer Đỏ ở hạ lưu sông Mekong dọc biên giới. Sở chỉ huy
Quân khu Tây Nam của Khmer Đỏ phải rút về Takéo.
Sau ba
ngày tấn công, tại hướng chủ yếu Tây Ninh, Quân đoàn 4 với sự yểm trợ
của không quân, trực thăng, pháo binh, hải quân, thiết giáp... quân Việt
Nam đánh bật được quân Khmer Đỏ khỏi các vị trí Năm Căn, Hòa Hội
dọc theo tỉnh lộ 13, và các đơn vị của các Sư đoàn 703, 340, 221 của
Khmer Đỏ phải rút về thành lập một tuyến phòng thủ mới tại Svay Rieng, tập trung ở cầu Don So.
Được 15 xe tăng và xe bọc thép mở đường, cùng với pháo 105mm, 155mm[18]
bắn yểm trợ, Sư đoàn 7 của Quân đoàn 4 mở cuộc tấn công vào quân Khmer
Đỏ ở Don So. Tuy nhiên sau hai ngày giao chiến với nhiều tổn thất, Sư
đoàn 7 vẫn chưa chọc thủng được tuyến phòng phủ của Khmer Đỏ. Tới đêm
ngày 1 tháng 1, tướng Hoàng Cầm hạ lệnh cho Sư đoàn 7 tung hết lực lượng
dự bị vào trận.
Quân
Khmer Đỏ kháng cự dữ dội, nhưng sau khi bị đánh thua ở Tây Ninh, quân
Khmer Đỏ đã bị mất tinh thần, hơn nữa, do phải chấp nhận một trận đánh
quy ước với một địch thủ có hoả lực, quân số và kinh nghiệm chiến trường
trội hơn quá nhiều, nên quân Khmer Đỏ bị tan rã. Tuyến phòng thủ Svay
Rieng bị vỡ ngày 2 tháng 1 năm 1979, quân Khmer Đỏ phải rút về Prey Veng và Neak Luong, chỉ để lại một số đơn vị đánh cầm chân Quân đoàn 4.
Tới ngày 2 tháng 1 năm 1979, quân đội Việt Nam đánh tan các sư đoàn chủ lực của Khmer Đỏ án ngữ các trục đường số 1, 7 và 2 ở lối vào Phnom Penh.
Chiều ngày 3 tháng 1, Sư đoàn 7 chiếm được cầu Don So và tới ngày 4
tháng 1 đã làm chủ toàn bộ vùng phía đông sông Mekong. Tới ngày 5 tháng
1, Sư đoàn 7 tiến đến Neak Luong.
Đánh chiếm Phnom Penh
Ngày 6
tháng 1, các đơn vị Việt Nam vượt sông Mekong qua ngả Neak Luong và bắc
Kompong Cham. Chín sư đoàn quân Việt Nam làm thành hai gọng kìm tiến vào
Phnom Penh từ phía Đông Nam và phía Bắc: Sư đoàn 7 và Sư đoàn 2 di
chuyển theo quốc lộ 1, Sư đoàn 9 tiến song song bảo vệ sườn phía nam và
Sư đoàn 341 bảo vệ sườn phía bắc. Một toán đặc công nhảy dù xuống Phnom Penh để giải cứu Hoàng thân Sihanouk, nhưng bị Khmer Đỏ phát hiện và tiêu diệt hết, chỉ duy nhất một người sống sót.
Tại
Kompong Cham, Quân đoàn 3 của tướng Kim Tuấn cũng giao tranh quyết liệt
với quân Khmer Đỏ để vượt sông. Quân Khmer Đỏ thiết lập trận địa phòng
ngự dọc bờ tây sông Mekong với nhiều ổ súng máy, súng cối
bắn trùm lên mặt sông để ngăn thuyền chở quân Việt Nam đổ bộ. Xa hơn
một chút, quân Khmer Đỏ bố trí xe tăng, xe bọc thép, pháo 105mm, 122mm
và 155mm để bắn vào quân Việt Nam đang tập trung ở bờ đông sông Mekong.
Đêm ngày 5 tháng 1, một toán quân gồm lính trinh sát, công binh và bộ
binh định vượt qua bờ sông chiếm một đầu cầu nhỏ, nhưng quân Khmer Đỏ
đánh bật họ lại. Tướng Kim Tuấn quyết định dùng hỏa lực áp đảo bắn vào
trận địa phòng thủ của quân Khmer Đỏ, rồi cho thả khói mù, dùng thuyền
chuyển quân sang bờ tây. Mặc dù rất nhiều thuyền bị trúng đạn của quân
Khmer Đỏ, Quân đoàn 3 cuối cùng cũng đã thiết lập được một đầu cầu. Một
đại đôi xe lội nước vượt sông và tỏa ra để đánh vào thị trấn; hai tiểu
đoàn bộ binh cũng vượt được sông, đến 8:30 sáng, Kampong Cham thất thủ.
Ngay
trong sáng ngày 6 tháng 1, lực lượng đột kích Phnom Penh, gồm Trung đoàn
28 của Sư đoàn 10 và các đơn vị phối thuộc, dẫn đầu bởi 6 xe lội nước và một số xe thiết giáp M-113
vượt sông, tổng cộng lực lượng lên đến 120 xe quân sự. Lực lượng đột
kích vừa hành quân vừa giao chiến với các ổ phục kích của quân Khmer Đỏ,
tới chiều tối đã tới bờ sông Tongle Sap và tổ chức đánh vượt sông để tiến vào Phnom Penh[19].
Trong khi
đó, ngày 6 tháng 1 năm 1979, những đơn vị đầu tiên của Sư đoàn 7 Quân
đoàn 4 được một tiểu đoàn UFNSK hỗ trợ chiếm được bờ phía đông của bến
phà Neak Luong. Quân Campuchia trong khi rút lui vội vã đã không kịp
thiết lập công sự phòng thủ. Trong đêm, cách bến phà khoảng hai cây số
về phía nam, Trung đoàn 113 cùng Trung đoàn 14 của Sư đoàn 7 được tàu đổ
bộ đưa sang bên kia sông, tiến chiếm bờ phía tây của bến phà. Ngày 7
tháng 1, toàn bộ đội hình Quân đoàn 4 tiến hành vượt sông. Do sự tan rã
nhanh chóng của lực lượng phòng thủ biên giới và sự chủ quan của Pol
Pot, quân đội Việt Nam tiến vào Phnom Penh từ Neak Luong mà không gặp
sức chống cự đáng kể nào. Trưa ngày 4 tháng 1, Quân đoàn 4 đã có thể bắt
tay với Quân đoàn 3 ở ngoại ô phía bắc Phnom Pênh. Tuy nhiên Quân đoàn 3
đã đến muộn, không kịp chặn đường Chính phủ Polpot rút chạy khỏi Phnom
Penh.
Ngày 7 tháng 1, quân Việt Nam chiếm sân bay Kampong Chhnang và bắt được mười máy bay A-37, ba C-123K, sáu C-47, ba Alouette III cùng một số T-28. Ngày 8 tháng 1, Hội đồng Nhân dân Cách mạng Campuchia do Heng Somrin làm chủ tịch đã được thành lập với sự hậu thuẫn của Việt Nam.
Ở phía Bắc, các sư đoàn của Quân đoàn 3 cũng tiến xuống Phnom Penh, sau đó Sư đoàn 320 theo quốc lộ 4 xuống bình định các tỉnh phía nam. Các sư đoàn còn lại theo các quốc lộ 5 và 6 tiến về hướng Tây và hướng Bắc. Họ gặp sức chống cự đáng kể của quân Khmer Đỏ tại Battambang và Siem Reap.
Hướng nam, Sihanoukville
Tại mặt trận phía nam, từ An Giang,
quân Việt Nam bắt đầu vượt biên giới vào ngày 3 tháng 1 năm 1979 và tấn
công theo hai hướng. Hướng thứ nhất, Sư đoàn 325 và Sư đoàn 8 tiến về
phía Tây, dọc theo quốc lộ số 2. Ngày 5 tháng 1 năm 1979, trong khi lực
lượng Quân khu 9 tiến đánh Takéo, sư đoàn 325 bắt đầu hành tiến theo hướng Tây Bắc. Lực lượng Khmer Đỏ của Quân khu Tây Nam do Ta Mok chỉ huy khét tiếng cuồng tín đã chuẩn bị công sự phòng thủ ở Tuk Meas trên đường 16, ở khoảng giữa biên giới và Chhuk.
Phải mất hai ngày giao chiến, Sư đoàn 325 mới có thể đánh tan tuyến
phòng ngự của Khmer Đỏ và chiếm được khu vực Tuk Meas. Cùng lúc đó tướng
Nguyễn Hữu An cũng tung Sư đoàn 8 theo hướng tây để đánh chiếm quận lỵ Kampong Trach, nằm ở giao điểm với đường quốc lộ ven biển.
Nắm quyền
chỉ huy trực tiếp trung đoàn xung kích 24, tướng Nguyễn Hữu An dẫn
trung đoàn tiến từ Tuk Meas về Chhuk. Các quân xa của Việt Nam gồm xe
tăng hạng nặng, xe tải và trọng pháo di chuyển khó khăn trên đường đất
và ruộng lúa nên đã bị quân Khmer Đỏ phục kích phá hủy một số xe và
pháo, sở chỉ huy của tướng An cũng bị tổn thất và tạm thời mất liên lạc
với các lực lượng còn ở phía sau. Tới chiều ngày 7 tháng 1, lực lượng
xung kích đã ra đến đường số 3, và trong quá trình tiến công đã đánh tan
sư đoàn quân Khmer Đỏ phòng ngự Chhuk.
Trong hai
ngày 4, 5 tháng 1 năm 1979, từ đảo Phú Quốc, hai phân đội Hải quân Việt
Nam gồm một số tàu tuần tiễu loại lớn của Mỹ, hai tàu khu trục Petya
của Nga, cùng nhiều tàu chiến nhỏ chuẩn bị chuyển Lữ đoàn Hải quân 101
và 126 đổ bộ. Hải quân cũng lập trận địa pháo 130mm ở mũi đảo Phú Quốc
để yểm trợ cho lực lượng đổ bộ.
Sẩm tối
ngày 6 tháng 1, toán quân đặc công gồm 87 người bí mật đổ bộ và tấn công
chiếm một trận địa pháo Khmer Đỏ bảo vệ bờ biển, cùng lúc, pháo 130mm
bắt đầu bắn phá các vị trí quân Khmer Đỏ. Lập tức các thuyền tuần tiễu
loại nhỏ của Khmer Đỏ xuất kích từ quân cảng Ream
và các bến cảng nhỏ tấn công vào Hải quân Việt Nam. Sau một trận giao
chiến trên biển, do có ưu thế về số lượng và hỏa lực, Hải quân Việt Nam
đẩy lùi hoặc đánh chìm hầu hết các tàu Khmer Đỏ, nhưng một tàu của Việt
Nam cũng bị trúng đạn, khiến nhiều thủy thủ bị thương vong[20]. Số tàu phóng lôi
Khmer Đỏ chạy thoát khỏi cuộc hải chiến và các cuộc không kích của
không quân Việt Nam, đến ngày 16 tháng 1 lại bị Hải quân Việt Nam chặn
đánh trong vịnh Thái Lan và bị tiêu diệt gần hết.
Tối ngày 7 tháng 1, Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 tiến hành đổ bộ ở chân núi Bokor, nằm ở khoảng giữa thị xã Kampot và cảng Sihanoukville.
Lữ đoàn đổ bộ được toàn bộ 3 tiểu đoàn và số xe lội nước, xe bọc thép,
nhưng do thủy triều lên cao, không có đủ chỗ triển khai đội hình, nên
không đổ bộ được số xe tải, và đến tối, 3 tiểu đoàn nữa theo dự định
cũng sẽ đổ bộ lại phải rút ra ngoài.
Theo kế
hoạch, lực lượng Hải quân đánh bộ phải triển khai một lực lượng lớn,
theo vùng ven biển đánh chiếm cùng lúc hai cây cầu quan trọng và giao
điểm Veal Renh dẫn về bán đảo Kampong Som.
Tuy nhiên, một chỉ huy lực lượng lính thủy đánh bộ do nóng vội, đã tập
hợp tiểu đoàn của mình, chở trên 12 xe tăng và xe bọc thép tiến về
Sihanoukville trước khi trời sáng. Đơn vị này bị một lực lượng lớn Khmer
Đỏ vây đánh từ chiều, qua đêm đến suốt ngày hôm sau và cuối cùng bị
tiêu diệt gần như hoàn toàn. Đến đêm ngày 7 tháng 1, Hải quân mới đổ bộ
thêm được 3 tiểu đoàn của Lữ đoàn 126 và 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 101 lên
bãi biển, nhưng số xe tải phải đến ngày 8 tháng 1 mới lên bờ được.
Sư đoàn
304 vốn được dùng làm dự bị để tham gia đánh về Phnom Penh, nhưng do
Quân đoàn 3 và 4 đã đánh được Phnom Penh từ ngày 7 tháng 1, nên tướng An
dùng sư đoàn này để nhanh chóng giải cứu lực lượng lính thủy đánh bộ và
đánh chiếm Sihanoukville. Dẫn đầu bởi một đơn vị xe M-113, Trung đoàn
66 của sư đoàn, kế tiếp là Trung đoàn 9 hành quân suốt đêm ngày 9.
Ngày 9
tháng 1, Trung đoàn 66 sau khi gặp lực lượng Hải quân đánh bộ, chuẩn bị
giao chiến: không lặp lại sai lầm của Hải quân, Trung đoàn 66 tổ chức
chiếm cao điểm xung quanh thành phố trước khi phối hợp với hải quân đánh
bộ đánh vào thành phố. Sau khi đánh tan được Sư đoàn 230 Campuchia,
quân Việt Nam chiếm được Kampot.
Trung đoàn 9 không đến kịp vì một cây cầu sụp đổ khi xe tăng dẫn đầu
trung đoàn đi qua. Khi Trung đoàn 9 và Lữ đoàn xe tăng 203 đến thành phố
thì Kampot đã rơi vào tay quân Việt Nam, nên lực lượng này được đưa đi
đánh quân cảng Ream. Được sự trợ lực của pháo hải quân bắn từ bến cảng
lên, cánh quân này chiếm được quân cảng Ream và hải cảng Kampong Som. Tuy nhiên, vì không chuẩn bị kịp về tiếp liệu[cần dẫn nguồn], quân Khmer Đỏ đã có thể phản công chiếm lại Kampong Som ngày 14 tháng 1, nhưng quân Việt Nam tái chiếm lại vào ngày hôm sau.
Hướng thứ hai, Quân khu 9 phụ trách, tiến về phía Bắc đánh chiếm hai thị xã Tan và Takéo. Các sư đoàn Khmer Đỏ trấn giữ quân khu Tây Nam như Sư đoàn 2, 210, 230, 250, bị tan rã và rút lui vào rừng.
Cuối tháng 1 năm 1979 cuộc phản công kết thúc thắng lợi. Đến ngày 17 tháng 1 thị xã cuối cùng là Ko Kong
rơi vào tay quân đội Việt Nam và chính quyền mới của Campuchia. Cho tới
cuối tháng 3, quân đội Việt Nam coi như chiếm được hết những thành phố
và tỉnh lỵ quan trọng của Campuchia và tiến sát tới biên giới Thái Lan.
Tuy nhiên tàn quân Pol Pot vẫn tiếp tục chống cự và quấy nhiễu, gây ra
nhiều thương vong cho quân đội Việt Nam đồn trú tại Campuchia.
Truy quét tàn quân Khmer Đỏ
Đánh Siem Reap và Battambang
Trên
chiến trường Campuchia, vì quân Việt Nam tiến quá nhanh chóng, nên quân
Khmer Đỏ chỉ bị tan rã chứ chưa bị tiêu diệt hẳn. Nhiều đơn vị đã tập
trung lại thành những đơn vị nhỏ, tiếp tục đánh du kích và quấy phá.Xe
tăng T-54 của VN rút về nước năm 1988
Sau khi
Quân đoàn 4 chiếm được Phnom Penh, các đơn vị của Quân đoàn 3, Quân khu 5
và Quân khu 7 cũng vượt sông Mekong tiến chiếm và bình định lãnh thổ
phía bắc Biển Hồ và sông Tonlé Sap. Quân Khmer Đỏ đã cố gắng kháng cự gần tỉnh Battambang nhưng cũng chỉ có thể làm chậm đà tiến quân của Việt Nam. Họ đã phân tán thành nhiều đơn vị nhỏ tiếp tục đánh du kích.
Quân đoàn
2 và các sư đoàn của Quân khu 9 sau khi chiếm được vùng duyên hải cũng
tiến dọc theo quốc lộ 4 về hướng Bắc. Mấy ngày sau khi Trung Quốc tiến
đánh biên giới Việt-Trung, Quân đoàn 2 rút về bảo vệ Hà Nội[cần dẫn nguồn]. Việt Nam bắt đầu tổng động viên, một số các trung đoàn độc lập được tăng cường lên thành cấp sư đoàn, như các trung đoàn Gia Định
1 và 2, Quyết Thắng 1 và 2, trở thành các Sư đoàn 317, 318 để gửi sang
tăng cường mặt trận Campuchia. Trách nhiệm chính trong công tác hành
quân vẫn là các đơn vị của Quân đoàn 4.
Ngày 8
tháng 1, Sư đoàn 10 theo lệnh của tướng Kim Tuấn thực hiện cuộc hành
quân chớp nhoáng truy kích quân Khmer Đỏ. Tới ngày 9, Trung đoàn 24 đã
chiếm được Kampong Thom, Trung đoàn 26 cũng đã kiểm soát được đường 6 nối Kampong Thom và Phnom Penh, Trung đoàn 66[21] được lệnh vượt lên trước hai đơn vị này đánh chiếm thành phố Siem Reap
ở phía tây bắc biển hồ Tongle Sap. Dùng 36 xe tải chở quân, được xe
tăng yểm trợ, trung đoàn nhanh chóng hành quân, tiến được 100km chỉ
trong vòng 2 giờ, đồng thời đánh tan các trạm kiểm soát của Khmer Đỏ dọc
đường. Trên đường đi, một đoàn xe chở quân Khmer Đỏ cũng nhập vào đội
hình trung đoàn do tưởng nhầm là tàn quân Khmer Đỏ tháo chạy. Do trời
tối, không ai phát hiện ra sự nhầm lẫn này. Mãi đến khi hai bên nhận ra
nhau thì một trận đánh khốc liệt mới nổ ra, quân Việt Nam tiêu diệt và
chiếm toàn bộ đoàn xe gồm 23 xe tải chở quân Khmer Đỏ. Rạng sáng ngày
10, quân Việt Nam đến Siem Reap, quân Khmer Đỏ bị bất ngờ, phải tháo
chạy ra bốn phía. Tới khi trời tối thì Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 10 và
Sư đoàn 5 của Quân khu 7 cũng đã tới nơi.
Ngày hôm sau, Trung đoàn 24 lại hành quân 100km nữa đánh chiếm thị xã Sisophon nằm cách biên giới Thái Lan
50km. Ngày 12 tháng 1, (sau khi trao lại thị xã cho lực lượng Quân khu
5) trung đoàn 24 một tiểu đoàn của Trung đoàn 66 cùng một đại đội xe
M-113, pháo phòng không và trọng pháo theo theo đường 5 phía nam
Sisophon đánh vào các lực lượng Khmer Đỏ đang tập trung về Battambang và
chiếm thành phố ngay trong ngày hôm đó.
Ngày 13 tháng 3 năm 1979, tướng Kim Tuấn
di chuyển Bộ chỉ huy Quân đoàn 3 đến Battambang để trực tiếp chỉ huy
chiến dịch truy quét tàn quân Pol Pot tập trung ở vùng tây nam gần biên
giới Thái Lan. Ba ngày sau, ông rời Battambang để đi Siem Reap, trên
đường đi khoảng 40km về hướng bắc Battambang, đoàn xe của ông bị một lực
lượng lớn Khmer Đỏ phục kích. Phần lớn đoàn xe bị phá hủy, tướng Kim
Tuấn bị thương nặng và mất ngày hôm sau, ngày 17 tháng 3. Ông là sỹ quan
cao cấp nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam
hy sinh khi tham chiến ở Campuchia. Ba tháng sau, tháng 6 năm 1979,
Quân đoàn 3 của ông rời Campuchia để tham gia phòng thủ biên giới phía
bắc với Trung Quốc.
Khu vực Tây Nam
Trận đánh quan trọng đầu tiên trong chiến dịch bình định diễn ra tại Kampong Speu, nằm trên quốc lộ 4
nối hải cảng Kampong Som với Phnom Penh, cách Phnom Penh khoảng 50 km.
Thị xã này, sau khi quân Khmer Đỏ di tản vội vã, do Trung đoàn 10 thuộc
Sư đoàn 339 Việt Nam chiếm đóng. Nhưng ít ngày sau, các lực lượng còn
lại của các Sư đoàn 703, 340, 221 từ tuyến phòng thủ Svay Rieng chạy về
đã tập trung lại và dự định tái chiếm thị xã. Được tin, Bộ tư lệnh Quân
đoàn 4 điều động Sư đoàn 341 đến tăng cường. Trận đánh bắt đầu ngày 21
tháng 1 năm 1979 đến ngày 7 tháng 2 mới kết thúc. Dù bị tổn thất nặng,
quân Việt Nam vẫn giữ được Kampong Speu, các lực lượng của 3 sư đoàn
Campuchia bị tan rã, chỉ còn là những nhóm nhỏ hoặc tiếp tục đánh du
kích, hoặc rút về biên giới Thái Lan.
Giữ vững
được Kampong Speu, bảo đảm được giao thông trên quốc lộ 4, quân Việt Nam
tiến đánh căn cứ Amleng, nơi mà bộ chỉ huy quân sự của Pol Pot từ Phnom
Penh rút về trú đóng. Căn cứ này nằm trong một vùng rừng núi hiểm trở,
cách Phnom Penh khoảng 100 km về phía tây nam. Lực lượng tấn công gồm Sư
đoàn 2, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Sư đoàn 341 của Quân đoàn 4, được tăng
cường thêm Sư đoàn 5 của Quân khu 7. Vì lực lượng tấn công quá hùng hậu,
quân Khmer Đỏ rút lui, bỏ lại căn cứ Amleng,
nhưng họ tìm đủ cách để gây khó khăn và tổn thất cho quân Việt Nam khi
họ rút lui khỏi căn cứ bằng đủ mọi cách như phục kích, bắn tỉa, gài mìn,
đốt rừng...
Chiếm xong được Amleng, quân Việt Nam mở chiến dịch đánh chiếm thị xã Leach.
Leach là một thị xã nhỏ nằm gần quốc lộ số 5 là con đường từ Phnom Penh
đi Battambang, cách biên giới Thái Lan khoảng 80 km. Trước ngày 7 tháng
1, Leach được Khmer Đỏ sử dụng làm căn cứ tiếp liệu. Sau khi Phnom Penh
thất thủ, khi quân Việt Nam chưa có đủ thì giờ để chiếm đóng hết các vị
trí, Khmer Đỏ dự định biến Leach thành một căn cứ phản công. Một phần
lớn những lực lượng còn lại được tập trung tại đây. Tuy quân số gồm
nhiều sư đoàn (104, 210, 260, 264, 460, 502), nhưng trên thực tế, mỗi sư
đoàn chỉ còn chưa tới một ngàn quân[cần dẫn nguồn]. Lực lượng phòng thủ cũng có vài khẩu pháo 105 ly và vài xe thiết giáp.
Để tấn
công Leach, quân Việt Nam đã sử dụng một lực lượng lớn và tấn công làm
bốn hướng. Hướng thứ nhất, do Sư đoàn 341 thay thế Sư đoàn 330 đã bị hao
hụt quân số quá nhiều khi giải toả quốc lộ số 5, đánh chiếm thị xã Pursat
để từ đó đánh vào mặt bắc của Leach. Hướng thứ hai do Sư đoàn 9 từ căn
cứ Amleng mới chiếm được đánh vào phía đông. Hướng thứ ba do Quân khu 9
phụ trách được tàu đổ bộ chở đến tỉnh Kokong,
rồi từ đó, tấn công mặt nam. Hướng thứ tư, do Sư đoàn 31, Quân đoàn 3,
từ biên giới Thái Lan theo tỉnh lộ 56 đánh ngược về mặt tây của Leach.
Vì đây là
một trận quyết định, nên trận đánh đã kéo dài trên một tháng. Tất cả
các sư đoàn tham chiến đều bị tổn thất nặng. Cuối cùng, vì hoả lực thua
kém, bệnh tật, bị hao hụt lực lượng mà không được bổ sung nên căn cứ
Leach của Khmer Đỏ bị Sư đoàn 9 chiếm được ngày 29 tháng 4 năm 1979.
Trận đánh tại căn cứ Leach là trận đánh có quy mô lớn cuối cùng trên đất
Campuchia. Sau khi Leach bị mất, các đơn vị còn lại của Khmer Đỏ rút về
các mật khu ở Pailin và Taxang sát biên giới Thái Lan. Một số khác phân tán thành những đơn vị nhỏ tiếp tục đánh du kích.
Các đơn
vị của Việt Nam bắt đầu phân nhiệm để hành quân bình định. Nhiều sư đoàn
thiện chiến đã bị hao hụt nặng được rút về nước. Những sư đoàn tân lập
được gửi qua tăng cường hay thay thế. Phía Việt Nam cho biết, tới cuối
tháng 1 năm 1979, quân Việt Nam đã có tới 8.000 thương vong. Về phía
quân Khmer Đỏ dù bị thiệt hại nặng vẫn còn khoảng 30.000 quân có còn khả
năng quấy phá, phục kích, gây mất ổn định khiến Việt Nam phải duy trì
một lực lượng quân sự lớn tại Campuchia.
Thành lập chính quyền mới
Ngày 5
tháng 1 năm 1979, 66 đại biểu Campuchia được triệu tập họp ở Mimot để
bàn về việc thành lập một đảng cộng sản Campuchia mới. Đảng này lấy lại
tên Đảng Nhân dân Cách mạng có từ thời 1951. Pen Sovan, một cán bộ
Campuchia tập kết về Hà Nội năm 1954, đang mang quân hàm thiếu tá trong
quân đội Việt Nam[cần dẫn nguồn], được đề cử giữ chức chủ tịch đảng. Những Uỷ viên thường vụ của đảng gồm Hun Sen, Bou Thang, Chan Kiri, Heng Samrin và Chia Soth.
Ngày 8
tháng 1 năm 1979, đài phát thanh Phnom Penh loan báo Phnom Penh đã được
giải phóng bởi những lực lượng cách mạng và nhân dân Campuchia. Một Hội
đồng cách mạng được thành lập do Heng Samrin làm chủ tịch. Khoảng mười
ngày sau, hội đồng này ký một hiệp ước với Việt Nam, hợp thức hóa sự
hiện diện của quân đội Việt Nam trên đất Campuchia.
Tới mùa xuân 1981, hiến pháp
mới của Campuchia được thông qua, sau đó là cuộc bầu cử toàn quốc để
chọn ra 117 đại biểu quốc hội. Hun Sen được bầu làm Bộ trưởng Ngoại
giao, Heng Samrin làm Chủ tịch nước. Ba sư đoàn mới được thành lập và
đặt dưới Bộ Quốc phòng, nhưng an ninh vẫn được duy trì chủ yếu dựa vào
sự hiện diện của 180.000 quân Việt Nam mà lực lượng chủ chốt là Quân
đoàn 4 do tướng Lê Đức Anh chỉ huy[22].
Chính quyền mới của Campuchia chỉ được một số nước cộng sản công nhận. Chính phủ của Pol Pot tiếp tục được các nước phương Tây, Trung Quốc và khối ASEAN công nhận và vẫn là thành viên Liên hiệp quốc.
Căng thẳng biên giới với Thái Lan
Căn cứ các lực lượng chống đối 1979-1984
Campuchia bị mất, Thái Lan
trở nên một địa bàn chiến lược quan trọng để Trung Quốc có thể giúp đỡ
cho Khmer Đỏ tiếp tục cuộc chiến. Sau khi họp xong với Ieng Sary, Đặng Tiểu Bình bí mật cử Gừng Giao, Uỷ viên Bộ Chính trị, cùng Thứ trưởng ngoại giao Hàn Niệm Long sang Bangkok hội đàm với Thủ tướng Thái Kriangsak Chomanan tại căn cứ không quân Utapao.
Sau khi Việt Nam liên minh với Liên Xô và tấn công Campuchia, Thái Lan
không còn giữ thái độ trung lập nữa, Kriangsak đồng ý để Trung Quốc dùng
lãnh thổ Thái lan tiếp tế cho Khmer Đỏ.
Sau khi quân đội Việt Nam tiến vào Campuchia lật đổ chế độ Pol Pot trong chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1979, các tàn quân Khmer Đỏ rút về các khu vực biên giới gần Thái Lan
và bắt đầu tổ chức chiến tranh du kích. Trong các cuộc hành quân càn
quét lực lượng du kích, không tránh khỏi việc quân đội Việt Nam tiến sát
hoặc thậm chí vượt qua biên giới Thái Lan để tấn công các căn cứ Khmer
Đỏ. Trong bối cảnh địa chính trị những năm 1980, Việt Nam và Thái Lan là
hai nước có hệ tư tưởng đối nghịch. Sau kết thúc của Việt Nam Cộng hòa
năm 1975 và sau đó là việc Quân đội Việt Nam tiến vào Campuchia năm
1979 thì biên giới Thái Lan-Campuchia trở thành biên giới tận cùng của
hai cực đối đầu trong chiến tranh Lạnh:
Thái Lan thân Mỹ và Việt Nam thân Liên Xô. Sự hiện diện quân sự lớn của
Cộng sản Việt Nam ngay kề bên một Thái Lan quân chủ làm nước này hết
sức lo ngại. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong và sau chiến tranh Việt Nam
cũng đã hỗ trợ một lực lượng du kích cộng sản Thái lên đến 20 nghìn
người hoạt động ở vùng Đông Nam. Căng thẳng trên mở màn cho một chuỗi
những vụ đụng độ và đối đầu lẻ tẻ, tuy chưa bao giờ được tuyên bố là một
cuộc xung đột chính thức nhưng đã kéo dài cho đến khi Việt Nam rút quân
khỏi Campuchia năm 1988
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



