Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2013

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP BỘ MÔN LỊCH SỬ CHO HỌC SINH BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ




ĐỀ TÀI

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ
HỌC TẬP BỘ MÔN LỊCH SỬ 
CHO HỌC SINH BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ
**************

A.   ĐẶT VẤN ĐỀ.
I.  CƠ SỞ LÍ  LUẬN
Dạy học là một quá trình d­ưới sự hoạt động tổ chức, điều khiển của ng­ười giáo viên, còn ngư­ời học tự giác tích cực, chủ động biết tự tổ chức điều khiển hoạt động  học tập của mình.
Đặc thù học tập môn lịch sử của bậc trung học cơ sở là các em phải tiếp cận với nhiều sự kiện lịch sử , với những vị anh hùng, những danh nhân lịch sử vĩ đại không chỉ của dân tộc mà cả của thế giới từ cổ đến kim, từ cận đại đến hiện đại . Khi học lịch sử thì yêu cầu các em phải nhớ sự kiện và hiểu nội dung bài học một cách chính xác, đầy đủ. Bởi vậy khi học, buộc các em phải cần cù, chịu khó lĩnh hội kiến thức thì mới thực sự đạt đ­ược kết quả cao. Vì thế bộ môn Lịch sử khó gây đ­ược hứng thú học tập ở các em.
Theo tôi, để học sinh tiếp thu nhanh, nhớ lâu, trong giảng dạy bộ môn lịch sử ở trường THCS giáo viên phải phát huy được tính tích cực của học sinh. Muốn vậy, giáo viên phải tạo đ­ược hứng thú học tập của các em, để các em dễ dàng tiếp thu kiến thức mà không bị gò ép.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.
Trong thực tế,  hầu hết học sinh chư­a ham học, chư­a thực sự yêu thích bộ môn lịch sử, chỉ đối phó tức thời, năng lực tiếp thu còn hạn chế, điều kiện học tập của các em còn chư­a đáp ứng đ­ược với yêu cầu nội dung và đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay. Chất lượng của bộ môn lịch sử đã đến lúc “báo động”.
Bên cạnh đó một số giáo viên soạn bài chưa chu đáo, có phần còn khiếm khuyết khi xác định nhiệm vụ và vai trò bộ môn lịch sử trong nhà trường. Hoặc

có thể khi giảng dạy, ng­ười giáo viên chư­a thực sự tâm huyết với bộ môn, giảng dạy còn nặng một chiều truyền thụ kiến thức, tạo sự gò bó, nhàm chán trong lĩnh hội kiến thức của học sinh.
  Là ngư­ời giáo viên trực tiếp cầm phấn giảng dạy bộ môn Lịch sử, tôi rất băn khoăn về vấn đề học tập của các em. Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn lịch sử là cả một vấn đề. Đặt ra yêu cầu đối với cả người dạy và người học. Trò phải hứng thú, say mê; thầy phải phát huy được tính tích cực ở trò, phải khơi dậy được niềm đam mê ở trò. Trong quá trình giảng dạy tôi đã cố gắng học hỏi bạn bè, đồng nghiệp, đồng thời nghiên cứu về một số giải pháp nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh, góp phần nâng cao chất lư­ợng dạy học  ở bộ môn Lịch sử

B.   GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. THỰC TRẠNG.
Thực ra từ tr­ước đến nay, đa số giáo viên ở trư­ờng do điều kiện dạy học, thiết bị còn có phần hạn chế nên khi giảng dạy hầu nh­ư giờ học ch­ưa sôi nổi, học sinh ch­ưa có hứng thú học tập, giờ học nhàm chán, nên hiệu quả gìơ học đạt kết quả chư­a cao. Qua khảo sát đầu năm tôi thu được kết quả như sau:

            Kết quả.
Khối lớp.
Tổng số
học sinh
Khá-Giỏi
Trung bình
Dưới trung bình
8
177
34 %
51 %
15 %
9
216
36 %
51 %
13 %
II. NGUYÊN NHÂN.
Theo tôi, những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là:
- Giáo viên chưa thực sự đầu tư cho giờ dạy.
- Các giờ học lịch sử chưa gây được sự hứng thú cho học sinh.
- Học sinh chưa yêu thích bộ môn lịch sử.
- Giáo viên và học sinh chưa bắt kịp với sự đổi mới phương pháp dạy và học.
- Thiết bị dạy học còn hạn chế.
III. GIẢI PHÁP.
Xuất phát từ thực tế bộ môn và qúa trình giảng dạy của mình tôi thấy cần tạo ra cho học sinh một không khí học tập sôi nổi, hứng thú hơn trong khi dạy học lịch sử. Có như vậy học sinh mới yêu thích bộ môn và sẽ nâng cao được chất lượng dạy học bộ môn. Thiết nghĩ rằng trò chơi trong các giờ học Lịch sử không chỉ nhằm mục đích giải trí cho học sinh mà còn tạo nên một không khí hăng say học tập. Các em phải có thể độc lập suy nghĩ tìm tòi hoặc phối hợp với các bạn trong nhóm để có đáp án nhanh, chính xác. Vì thế khi các em đ­ược học Lịch sử qua hình thức trò chơi sẽ thấy thoải mái hơn, hứng thú hơn, từ đó mà ghi nhớ tốt những kiến thức cơ bản.            
Có nhiều biện pháp để tạo hứng thú học tập cho học sinh. Trong khuôn khổ của một bài kinh nghiệm, tôi xin trình bày một số biện pháp mà tôi đã sử dụng trong quá trình soạn giảng và đã thu được kết quả tốt trong các hội thi giáo viên giỏi, được bạn bè đồng nghiệp đánh giá cao.

1. Trò chơi ô chữ.
a. Cách tạo ô chữ.
Khi soạn bài, tôi thiết kế một hệ thống ô chữ lịch sử với các ô chữ hàng ngang và một ô chữ hàng dọc. Mỗi ô chữ hàng ngang  là một đơn vị kiến thức trong bài học và sẽ có một chữ cái chìa khoá. Mỗi ô hàng ngang có một  câu hỏi để học sinh  giải đáp. Sau khi giải hết các ô chữ hàng ngang với các chữ cái xuất hiện, học sinh sẽ tìm được ô chữ hàng dọc. Ô chữ hàng dọc sẽ là nội dung kiến thức cơ bản nhất của bài học.
          b. Sử dụng ô chữ.
          Với ô chữ lịch sử, tôi thường sử dụng vào khâu củng cố bài học, hoặc có thể sử dụng để kiểm tra kiến thức sau khi học một chương, một giai đoạn lịch sử.  Để thực hiện trò chơi giải ô chữ, tôi dành thời gian khoảng 5 phút.
* Cách thứ nhất: Hoạt động nhóm.
          B1: Chia lớp làm ba nhóm, giáo viên phát phiếu học tập  cho các em thảo luận nhóm.
          B2: Giáo viên chiếu ô chữ lên máy chiếu hắt. Đồng thời kẻ ô chữ vào ba bảng phụ treo lên bảng.
          B3: Học sinh ba nhóm thi đua nhau lên bảng điền vào các ô chữ. Nhóm nào hoàn thành ô chữ trước và đúng  sẽ chiến thắng.
          B4: Giáo viên yêu cầu học sinh tìm ô chữ hàng dọc và trình bày hiểu biết của em về ô chữ hàng dọc đó.
          B5: Giáo viên chiếu ô chữ hoàn chỉnh lên máy chiếu hắt. Nhận xét và tuyên dương nhóm làm tốt.
* Cách thứ hai: Hoạt động độc lập.
          B1: Giáo viên đóng vai trò là một người dẫn chương trình.
          B2: Cho học sinh tự do lựa chọn ô chữ hàng ngang tuỳ thích, giáo viên đọc câu hỏi, học sinh trả lời.
          B3: Sau khi lần lượt học sinh giải các ô chữ hàng ngang, các chữ cái chìa khoá sẽ xuất hiện; giáo viên cho học sinh tìm ô chữ  hàng dọc và trình bày hiểu biết của em về ô chữ hàng dọc.
          B4: Giáo viên nhận xét và tuyên dương những học sinh làm tốt.
         
           c. Thiết kế ô chữ.
          *  Ô chữ thứ nhất:
          Bài 25. Phong trào nông dân Tây Sơn.
          Tiết 53. I. Khởi nghĩa  nông dân Tây Sơn. ( Lịch sử lớp 7)

Ô chữ gồm có 6 ô chữ hàng ngang và một ô chữ hàng dọc:

1







2
3
4
5
6












































- Hàng ngang số 1: Có 6 chữ cái: Một loại lâm sản mà nhân dân Đàng Trong phải nộp cho quan lại.
- Hàng ngang số 2: Có 6 chữ cái: Một hình thức bóc lột của quan lại đối với nông dân
- Hàng ngang số 3: Có 8 chữ cái: Tên một nhà bác học nước ta thế kỉ XVIII.
- Hàng ngang số 4: Có 10 chữ cái: Tên một trong những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩaTây Sơn.
- Hàng ngang số 5: Có5 chữ cái: Nơi lập căn cứ đầu tiên của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.
- Hàng ngang số 6: Có 9 chữ cái: Căn cứ của cuộc khởi nghĩa Chàng Lía.

Đáp án ô chữ:
   1
S
Ừ
N
G
T
Ê

  2

3
  4

5
  6
T
Ô
T
H
U
Ế


L
Ê
Q
Ú
Y
Đ
Ô
N

N
G
U
Y
Ễ
N
N
H
Ạ
C
A
N
K
H
Ê


T
R
U
Ô
N
G
M
Â
Y
Ô chữ hàng dọc là: Suy yếu
          
         
         *  Ô chữ thứ hai:
Bài 13. Tiết 15. Tổng kết lịch sử thế giới hiện đại từ sau năm 1945 đến nay.
(Lịch sử lớp 9)
Ô chữ gồm có 6 ô chữ hàng ngang và một ô chữ  hàng dọc:



1
2
















3
4
















5







6







                                                 

- Hàng ngang số 1: Có 10 chữ cái: Sự đối đầu Xô-Mĩ đưa thế giới đứng trước nguy cơ này.
- Hàng ngang số 2: Có 4 chữ cái: Tên một khối quân sự do Mĩ thiết lập.
- Hàng ngang số 3: Có 7 chữ cái: Tên của nhà du hành vũ trụ đầu tiên bay vòng quanh Trái đất.
- Hàng ngang số 4: Có 5 chữ cái: Mĩ và các nước Đế quốc tiến hành nhiều cuộc chiến tranh để nhằm thực hiện điều này đối với các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và phụ thuộc.
- Hàng ngang số 5: Có 7 chữ cái: Chính sách đối ngoại của Liên Xô.
- Hàng ngang số 6: Có 7 chữ cái: Tên của vị Tổng thống Mĩ tham dự Hội nghị
I-an-ta.
Đáp án ô chữ:

  1
  2
C
H
I
Ế
N
T
R
A
N
H
N
A
T
Ô


3
4
G
A
G
A
R
I
N


Đ
À
N
Á
P


  5
H
O
À
B
Ì
N
H
6
R
U
Z
Ơ
V
E
N
                      

Ô chữ hàng dọc: Hai phe.
  2.   Trò chơi giải “mật mã” Lịch sử.
          a. Tạo trò chơi:
         -  Giáo viên chuẩn bị các dữ kiện lịch sử, các dữ kiện đó có liên quan đến một sự kiện hay một nhân vật lịch sử được coi là “mật mã” .
         - Mỗi dữ kiện là một câu hỏi gợi ý để học sinh trả lời.
         - Sau khi tìm được tất cả các dữ kiện, học sinh sẽ có căn cứ để xác định các dữ kiện đó liên quan đến một sự kiện hay một nhân vật lịch sử.
          b. Sử dụng trò chơi:
         Với trò chơi này tôi có thể sử dụng để củng cố bài học hoặc cũng có thể sử dụng trong các tiết làm bài tập lịch sử. Đặc biệt khi giáo viên muốn nhấn mạnh một sự kiện lịch sử quan trọng hay nhân vật lịch sử có công lớn đối với đất nước.              
   Ví dụ:
          Bài 25: Phong trào nông dân Tây Sơn
          Tiết 57. Quang Trung xây dựng đất nước.
          Phần củng cố bài học, giáo viên đ­ưa ra một bông hoa bằng giấy có 5 cánh,  mỗi cánh hoa là mỗi dữ kiện, nhuỵ hoa là một “mật mã” :
* GV nêu câu hỏi để học sinh tìm ra các dữ kiện trên mỗi cánh hoa:
- Cánh hoa 1: Năm nổ ra cuộc khởi nghĩa Tây Sơn .
- Cánh hoa 2: Một chiến thắng quân sự năm 1785.
- Cánh hoa 3: Nghĩa quân Tây Sơn đại phá quân Thanh vào năm này.
- Cánh hoa 4: Một cơ quan thời Tây Sơn có nhiệm vụ dịch chữ Hán ra chữ Nôm.
- Cánh hoa 5: Ban bố nào có tác dụng phục hồi và phát triển kinh tế thời Tây Sơn.
* Cho học sinh lựa chọn cánh hoa để trả lời.
* Sau khi học sinh trả lời cho đáp án từng cánh hoa.
* Khi đã tìm được tất cả câu trả lời ở các cánh hoa, giáo viên cho học sinh tìm mối liên hệ giữa các dữ kiện đó để giải mật mã ở nhuỵ hoa.
* Đáp án:
- Cánh hoa 1: Năm 1771
- Cánh hoa 2: Rạch Gầm- Xoài Mút
- Cánh hoa 3: Năm 1789
- Cánh hoa 4: Lập Viện Sùng chính
- Cánh hoa 5: Chiếu khuyến nông.
- Nhuỵ hoa- “Mật mã”: Quang Trung

              IV. KẾT QUẢ.
Với mong muốn sáng tạo cho học sinh có hứng thú học tập, đồng thời nhớ và hiểu đ­ược lâu khi học tập bộ môn lịch sử , tôi th­ường xuyên tổ chức hình thức các trò chơi này trong các giờ học, và nhận thấy rằng  trò chơi đã góp phần tích cực tạo đ­ược hứng thú học tập cho  các em , giờ  học sôi  nổi  hơn, học sinh  hăng  say  học  tập  tìm  hiểu,  chất l­ượng học của các em  đư­ợc nâng lên rõ rệt .
Cuối năm, các lớp sử tôi dạy đạt kết quả như sau:

            Kết quả.
Khối lớp.
Tổng số
học sinh
Khá-Giỏi
Trung bình
Dưới trung bình
8
177
41 %
54 %
5 %
9
216
44%
53 %
3 %

C.  BÀI  HỌC KINH NGHIỆM:
- Khi tổ chức trò chơi giáo viên phải phổ biến rõ luật chơi cho học sinh: Thành phần tham gia, thời gian, số l­ượng câu hỏi, phần thư­ởng… Trò chơi có thể chơi vào cuối giờ học để củng cố bài học, hoặc có thể dùng trò chơi để kiểm tra kiến thức của học sinh sau khi học xong một thời kỳ, một giai đoạn lịch sử…Các câu hỏi cho mỗi ô chữ, mỗi cánh hoa phải tập trung vào các đơn vị kiến thức lịch sử cần ghi nhớ. Ô chữ hàng dọc, “ mật mã lịch sử” phải là nội dung kiến thức quan trọng, bao trùm lên toàn bộ bài học hoặc của một chương, một giai đoạn lịch sử.
- Trò chơi chỉ là một phần trong tiết học để góp phần tạo hứng thú học tập cho các em. Tránh tình trạng lạm dụng quá mức, biến giờ học thành trò chơi sẽ làm mất thời gian và gây nên phản tác dụng.
- Để trò chơi thành công, đòi hỏi  giáo viên luôn phải tìm tòi , sáng tạo, chuẩn bị công phu tr­ước khi đến lớp.
  




               

D.   KẾT LUẬN:
Với các trò chơi trên, tôi đã áp dụng trong quá trình giảng dạy, nó đã thực sự đem lại hứng thú học tập, các em học tập sôi nổi, hiệu quả hơn. Bởi ngoài việc chơi, hơn hết là các em được ghi nhớ các đơn vị kiến thức một cách nhẹ nhàng, không gượng ép, nặng nề.  “Học mà chơi, chơi mà học”. Và dần dần các em yêu thích hơn bộ môn lịch sử. Tôi hy vọng rằng với các biện pháp trên sẽ góp phần  nâng cao chất l­ượng học tập ở bộ môn lịch sử nói riêng và các bộ môn khác nói chung.
    Trên đây là một  kinh nghiệm nhỏ của riêng tôi nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, vậy tôi rất  mong bạn đọc góp ý kiến xây dựng, để kinh nghiệm của tôi hoàn thiện hơn.
                                                                    Tôi xin chân thành cảm ơn./.

Young Be A Sưu tầm:




Bộ MIDI Karaoke 6 số hơn 3000 bài hát tiếng Anh

Đây là midi karaoke 6 số hơn 3000 bài hát tiếng anh giành cho máy tính của bạn.Thích thì tải tại đây:

bạn tải chương trình điều khiển karaoke trên máy tính :
http://www.mediafire.com/?6qqlxu833fgor6c
Sau đó bạn tải bộ midi karaoke bài hát tiếng anh sau:
http://www.mediafire.com/?l1hobx32celayhg

chức thành công:Young be a

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

NGHỆ THUẬT TẠO THỜI CƠ VÀ CHỚP THỜI CƠ TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM – 1945 CỦA ĐẢNG CSVN




NGHỆ THUẬT TẠO THỜI CƠ VÀ CHỚP THỜI CƠ TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM  – 1945 CỦA ĐẢNG.

            Cách mạng tháng Tám – 1945 là một sự kiện lịch sử vĩ đại trong toàn bộ lịch sử đấu tranh cách mạng để tự giải phóng của dân tộc Việt Nam. Nó đã kết thúc vẻ vang một quá trình vận động cách mạng dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân mà đội tiền phong là Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng thời mở ra một quá trình vận động cách mạng mới. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi về chiến lược và sách lược cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Thắng lợi đó đã đưa tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á, là đỉnh cao trong phong trào cách mạng thế giới.
            Cuộc cách mạng dân tộc và khởi nghĩa dân tộc năm 1945 là một cuộc cách mạng vô cùng nhân đạo, nhân văn cao cả, thể hiện một chủ nghĩa dân tộc sáng suốt. Đó là một cuộc cách mạng tập hợp được tuyệt đại bộ phận nhân dân cả nước, diễn ra nhanh chóng và ít đổ máu. Cách mạng tháng Tám thắng lợi là là do sự tác động, chuyển hóa, tổng hợp của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ của Đảng là một nhân tố vô cùng quan trọng. Cách mạng tháng Tám đã chọn đúng thời cơ, nắm bắt thời cơ và tận dụng những thuận lợi của thời cơ. Chỉ trong vòng hơn nữa tháng (từ 15.8 đến 2.9) cách mạng Việt Nam đã có bước ngoặt  quyết định, cuộc Tổng khởi nghĩa diễn ra rất nhanh, rất mạnh và rất gọn. Nếu sớm hơn thời gian đó, khi phát xít Nhật chưa đầu hàng Đồng minh ; hoặc muộn hơn thời gian đó, khi quân Anh, quân Trung Hoa Dân quốc đã vào Đông Dương thì tình hình sẽ diễn biến phức tạp khôn lường.
            Chọn đúng thời cơ khởi nghĩa là vấn đề vô cùng quan trọng vì khởi nghĩa vũ trang, một hình thức đặc biệt của đấu tranh vũ trang, chí thành công khi trước hết đã có thể “dựa và một bước ngoặt quyết định trong lịch sử của cuộc cách mạng đang lên. Khi mà tính tích cực của các bộ phận tiên tiến trong nhân dân được biểu lộ cao hơn hết, khi mà những dao động trong hàng ngũ địch và trong hàng vũ những người bạn mềm yếu do dự và không kiên quyết của cách mạng biểu hiện ra mạnh hơn hết” [Lênin, Chủ nghĩa Mác và khởi nghĩa vũ trang]. Chọn đúng thời cơ khởi nghĩa còn hết sức quan trọng vì thời cơ đó có thể qua đi rất mau. Lênin trong buổi chiều ngày 24/10/1917 đã viết rõ “Rõ ràng hơn ban ngày là hiện nay nếu khởi nghĩa chậm thì thật là xuống hố… lịch sử sẽ không tha thứ cho các nhà cách mạng, nếu chậm trễ, họ có thể thắng ngày hôm nay (và nhất định sẽ thắng ngày hôm nay) nếu chậm đến ngày mai thì sẽ mất nhiều và có thể mất hết…”. Nắm vững lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về khởi nghĩa vũ trang và nhận thức được sâu sắc quá trình phát triển của tình thế. Đảng đã sớm vạch ra được lúc nào xuất hiện thời cơ khởi nghĩa ở Việt Nam và đã biết trước thời cơ đó sẽ qua đi rất mau. Để có thể chọn đúng thời cơ, nắm bắt đúng thời cơ và tận dụng những thời cơ thì trước hết phải tạo được thời cơ, tạo thời cơ đó chính là quá trình xây dựng, chuẩn bị về đường lối, phương pháp và lực lượng cách mạng…
             Đó là yếu tố vật chất tạo nên thực lực của cách mạng, tạo nên sức mạnh vô địch giành thắng lợi trong giờ phút quyết định, thời cơ trong cách mạng tháng Tám không phải là một cơ may. Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Ở Đông Dương, thực dân Pháp đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng do Đảng ta lãnh đạo, đồng thời ban bố lệnh tổng động viên, ra sức bắt người, cướp của tại chổ để cung cấp cho chiến tranh đế quốc của chúng. Chiến tranh đã đặt đất nước ta trong tình hình mới. Chính sách vơ vét, cướp bóc và chính sách khủng bố phát xít của đế quốc trong chiến tranh đã đẩy mau tốc độ cách mạng hóa nhân dân, đẩy mau tình thế tới một thời điểm mà giai cấp thống trị không thể thống trị như cũ, và giai cấp bị trị cũng không thể sống như cũ được nữa. Chiến tranh đã đặt nhiệm vụ đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai thành nhiệm vụ trực tiếp, trước mắt của cách mạng. Đấu tranh hợp pháp giành chính quyền dân chủ, dân sinh không còn khả năng mà cũng không phải là mục tiêu trực tiếp của cách mạng lúc ấy nữa. Đảng ta đã kịp thời chỉ thị cho các cơ quan và cán bộ hoạt động hợp pháp và nữa hợp pháp phải mau lẹ rút vào bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn và thành thị. Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng Đức, nhân cơ hội đó, cuối tháng 9/1940 phát xít Nhật đã xâm lược Đông Dương. Quân Pháp nhanh chóng đầu hàng Nhật, chúng quỳ gối mở cửa, đón phát xít Nhật vào cùng bóc lột, thống trị. Phát xít Nhật giữ nguyên bộ máy thống trị của thực dân Pháp, dùng nó để bóc lột kinh tế phục vụ cho nhu cầu chiến tranh và đàn áp phong trào cách mạng. Việt Nam bị đặt dưới ách thống trị của Nhật – Pháp. Nhân dân Việt Nam anh dũng, bất khuất đã đứng dậy chống cả Nhật lẫn Pháp. Tháng 9/1940, nổ ra cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn. Tháng 11/1940, nổ ra cuộc khởi nghĩa Nam Kì, tháng 1/1941 nổ ra cuộc binh biến Đô Lương. Các cuộc khởi nghĩa nổi dậy đã thất bại vì điều kiện chưa chín muồi, nhưng “đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc là bước đầu đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc Đông Dương”. Thời kì toàn dân nổi dậy cầm vũ khí đánh đổ bọn cướp nước và bán nước giành độc lập, tự do, thời kì những cuộc khởi nghĩa từng phần có thể nổ ra để chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa trong cả nước.
            Mặc dù khách quan có nhiều thuận lợi nhưng tình thế cách mạng lúc đó cũng mới chỉ là tình thế cách mạng nói chung. Điều kiện chủ quan chưa cho phép tiến hành đấu tranh vũ trang ngay để giành lấy thắng lợi toàn bộ cho cách mạng mà còn phải trải qua một thời kì tổ chức và chuẩn bị chu đáo hơn.
            Trước những thay đổi của tình hình thế giới và trong nước, tháng 11 – 1940, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng được triệu tập tại làng Đình Bảng (Từ Sơn – Bắc Ninh). Hội nghị vạch rõ nguy cơ của các dân tộc Đông Dương bị một cổ hai tròng. Đông Dương bị hai bọn đế quốc Pháp – Nhật dày xéo. Hội nghị xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là đế quốc Pháp – Nhật. Do đó, nhiệm vụ trước mắt của Đảng là lãnh đạo nhân dân Đông Dương chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang đánh đổ phát xít Pháp – Nhật giành chính quyền về tay nhân dân. Hội nghị quyết định duy trì đội du kích Bắc Sơn để xây dựng thành lực lượng vũ trang cách mạng…
            Tháng 5 – 1941, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Pác Bó (Hà Quảng – Cao Bằng) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Khi đó phát xít Đức sắp đánh Liên Xô, Hội nghị nhận định nếu Đức đánh Liên Xô thì chúng sẽ bị tiêu diệt, cách mạng nhiều nước sẽ thành công, một loạt nước XHCN sẽ ra đời. Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc tình hình trong nước và thế giới, hội nghị cuộc cách mạng trước mắt là cách mạng giải phóng dân tộc, các lực lượng cách mạng của dân tộc cần tập trung mũi nhọn vào bọn phát xít xâm lược Pháp – Nhật, bởi vì : “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Hội nghị xác định hình thái cuộc khởi nghĩa ở nước ta là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa và kết luận : chuẩn bị khởi  nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân trong giai đoạn hiện tại. Căn cứ vào khởi nghĩa của Xô viết Nghệ Tĩnh và khởi nghĩa của các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kì, Hội nghị nhận định khi thời cơ đến “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”. Như vậy, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh chủ trương được đề ra từ Hội nghị Trung ương tháng 11 – 1939, nhằm giải quyết mục tiêu số 1 của cách mạng là độc lập dân tộc. Hội nghị vạch ra những phương hướng, biện pháp tập hợp lực lượng chống đế quốc trong một mặt trận dân tộc thống nhất là Việt Minh, qua con đường khởi nghĩa vũ trang từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa. Đây là những sáng kiến lớn của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phong trào cứu nước những năm 1940 – 1945. Tháng 12 – 1941, Trung ương Đảng ra thông cáo về “Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng” vạch rõ khi quân Đồng minh kéo vào đất nước ta với quá trình chuẩn bị lâu dài, dự đoán đúng chiến lược và kịp thời hành động khi có điều kiện khởi nghĩa xuất hiện. Khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương, Nhật buộc phải làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương.
            Đêm ngày 9/3/1945, cuộc xung đột vũ trang giữa Nhật và Pháp nổ ra, chưa đầy một ngày thì thực dân Pháp đã đầu hàng Nhật trên toàn cõi Đông Dương. Sau cuộc đảo chính Nhật, lực lượng tự vệ chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang đã phát triển mạnh mẽ, rộng rãi và hầu khắp trong toàn quốc, những căn cứ địa vũ trang hoàn bị đã được xây dựng, quảng đại quần chúng đã hướng về cách mạng, hình thái cách mạng trực tiếp đã xuất hiện. Vấn đề cấp thiết đặt ra cho cách mạng là biết chọn đúng thời cơ để khởi nghĩa toàn quốc. Do vậy, đang lúc Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại làng Đình Bảng (Từ Sơn – Bắc Ninh). Ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Bản chỉ thị nhận định : Cuộc đảo chính đã tạo nên cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc, nhưng những điều kiện tổng khởi nghĩa chưa chín muồi. Phát xít Nhật trở thành kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương. Khẩu hiệu “Đánh đuổi Pháp – Nhật” được thay bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”. Hình thức đấu tranh được xác định là từ bất hợp tác, bãi công, bãi thị đến biểu tình, thị uy, vũ trang du kích và sẳn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa khi có điều kiện. Hội nghị đã quyết định phát động một “cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”. Trong lúc nhân dân ta gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa thì ở Bắc Kì và Bắc Trung Kì đã xảy ra nạn đói rất khủng khiếp, làm hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Đó là hậu quả thảm khốc nhất của chính sách cướp bóc và gây chiến của bọn Pháp – Nhật. Trước thực tế đó, Đảng đề ra khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói”. Khẩu hiệu đã đáp ứng nguyện vọng cấp bách nhất của nông dân, thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh của nhân dân, đẩy cao trào kháng Nhật cứu nước dâng khắp toàn quốc, lôi kéo đông đảo các tầng lớp, giai cấp tham gia, không khí khởi nghĩa sục sôi trong cả nước. Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn cuối. Sau khi đã tiêu diệt được phát xít Ý, Đức ở châu Âu. Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản. Ngày 9/8/1945, quân đội Xô viết mở màn chiến dịch tổng công kích đạo quân Quan Đông của Nhật Bản ở Đông Bắc Trung Quốc. Trưa ngày 15/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng không điều kiện các lực lượng Đồng minh trên sóng phát thanh của Nhật Bản. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã. Chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang. Điều kiện khách quan thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa đã đến. Tin Nhật đầu hàng truyền đi khắp nước, đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng trong tất cả các tầng lớp nhân dân, đẩy phong trào cách mạng lên một đỉnh cao chưa từng thấy, các tầng lớp trung gian đã ngã hẳn hoàn toàn về phía cách mạng. Mặt trận Việt Minh đã thu hút hàng chục triệu hội viên đủ các tầng lớp, các dân tộc. Cao trào cứu nước đã lôi cuốn cả dân tộc vùng dậy. Triệu người như một cầm lấy tất cả những gì có thể làm vũ khí đánh đổ bọn cướp nước và lũ bán nước giành quyền làm chủ dân tộc. Đảng Cộng sản Đông Dương đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về chiến tranh, tư tưởng và tổ chức cho cuộc khởi nghĩa. Những điều kiện chủ quan và khách quan cho cuộc Tổng khởi nghĩa ở nước ta đã hoàn toàn chín muồi. Thời cơ cách mạng “ngàn năm có một” đã đến. “Chúng ta không thể chậm trể”. Trách nhiệm lịch sử của Đảng lúc ấy là lãnh đạo nhân dân nắm chắc thời cơ chiến lược, nỗi dậy cướp chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn tay sai, trước khi quân đội của đế quốc Anh và quân phản động Trung Hoa Dân quốc vào Đông Dương, trước khi thực dân Pháp kịp tập hợp lại tàn quân và đưa quân viễn chinh vào cướp lại nước ta lần nữa. Từ giữa tháng 8/1945 quân đội Anh đang trên đường hành quân gấp vào nước ta từ phía Nam, quân đội Trung Hoa Dân quốc cũng đang trên bước chạy mau vào nước ta từ phía Bắc. Một cuộc chạy đua nước rút lịch sử để giải quyết các vấn đề giành quyền làm chủ đất nước giữa nhân dân ta với các tập đoàn đế quốc và bọn phản động, đòi hỏi nhân dân ta phải mau chóng đoạt lấy thắng lợi trong cuộc chạy đua đó. Ngay sau Hội nghị toàn quốc của Đảng (14 – 15/8/1945 tại Tân Trào, Sơn Dương – Tuyên Quang) và Đại hội Quốc dân được triệu tập ở Tân Trào (16 – 17/8/1945), Đảng Công sản Đông Dương và Bác Hồ đã ra lời hiệu triệu đồng bào và chiến sĩ cả nước nỗi dậy giành chính quyền. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu đồng bào ta từ Bắc đến Nam đã đồng loạt vùng dậy tiến hành Tổng khởi nghĩa oanh liệt, giải phóng toàn bộ đất nước. Thời cơ cách mạng là chổ kết hợp những điều kiện chủ quan và khách quan đã chín muồi đảm bảo thắng lợi cho cách mạng. Trong vận động cách mạng, thời cơ xuất hiện như một yếu tố lịch sử, đưa quần chúng đến ngay ngưỡng cửa của cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền nhưng cũng có thể thời cơ trôi đi một cách nhanh chóng. Nếu ta không biết chớp ngay lấy nó mà hành động. Thời cơ của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945 chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian rất ngắn. Nếu như cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra sớm hơn ngày 15/8/1945 khi mà Nhật chưa đầu hàng Đồng minh không điều kiện thì cách mạng sẽ gặp vô và khó khăn. Phát xít Nhật tuy suy yếu nhưng chúng còn đủ lực lượng để chống lại cách mạng một cách quyết liệt và như vậy cuộc khởi nghĩa chắc chắn sẽ không dễ dàng thành công trong cả nước một cách nhanh chóng. Mặt khác, nếu cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra muộn hơn khi quân Anh, quân Trung Hoa Dân quốc kéo vào nước ta, khi mà thực dân Pháp đã phục hồi lại lực lượng và viện binh của chúng từ Pháp sang xâm lược lại nước ta một lần nữa, và chính phủ bù nhìn Trần Trọng kim đã tiếp xúc được với bọn đế quốc thì thời cơ thuận lợi nhất cho tổng khởi nghĩa sẽ trôi qua. Chắc chắn ta sẽ hi sinh rất nhiều của, nhiều người. Khởi nghĩa là một nghệ thuật mà chổ tuyệt diệu của nghệ thuật đó là chọn đúng thời cơ, tập trung toàn lực, giáng những đòn quyết định vào kẻ thù. Bí quyết để chớp lấy thời cơ của Đảng ta là nắm vững những nguyên lí của Chủ nghĩa Mác – Lênin về thời cơ cách mạng, phải bám sát tình hình, nhạy bén trước thời cuộc, để dự kiến chính xác, biết phải làm gì? và làm như thế nào? Nhất là phải ra sức chuẩn bị thực lực từ trước để một khi thời cơ đến có thể tung ra mà giành lấy thắng lợi. Tuân theo những giáo huấn của Chủ nghĩa Mác – Lênin và vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước, Đảng đã dũng cản vượt qua mọi khó khăn, kiên quyết lãnh đạo khởi nghĩa, không sợ gian khổ, hành động kịp thời. Lãnh đạo nhân dân nỗi dậy tước vũ khí của quân Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương, giành lấy chính quyền từ tay Nhật, lật đổ bọn bù nhìn tay sai, nhân dân ta đứng ở địa vị làm chủ đất nước mà tiếp đón quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật. Chớp đúng thời cơ khởi nghĩa là một đặc điểm sáng tạo của Đảng, của dân tộc ta. Đây không phải là sự ngẫu nhiên, ăn may mà là kết quả tất yếu của sự chuẩn bị lâu dài, kĩ lưỡng của Đảng và nhân dân ta trong suốt 15 năm trên tất cả các mặt về đường lối, tổ chức, phương pháp,  về lực lượng cách mạng, thời cơ cách mạng, tập dượt cách mạng…. 
            Cách mạng tháng Tám 1945 mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc ta, đã phá tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5 năm, lật nhào ngai vàng phong kiến ngự trị ngót chục thế kỉ ở nước ta, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước do nhân dân lao động làm chủ.
            Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, mở đầu kỉ nguyên mới của dân tộc : kỉ nguyên độc lập, tự do ; kỉ nguyên nhân dân lao động nắm chính quyền, làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh dân tộc ; kỉ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội.
            Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Đảng Cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa, trở thành một Đảng cầm quyền, chuẩn bị những điều kiện tiên quyết cho những thắng lợi tiếp theo của cách mạng Việt Nam.
            àThắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã góp phần vào chiến thắng chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đã chọc thủng khâu yếu nhất trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, góp phần làm suy yếu chúng, cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng, “có ảnh hưởng trực tiếp và rất to lớn đến hai dân tộc bạn là Miên và Lào”.

Young be a:
 

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

Danh sách 9 chúa và 13 vị vua triều Nguyễn(1558-1945)



                   Danh sách 9 chúa và 13 vị vua triều Nguyễn
    THÔNG TIN CHUNG VỀ NGUỒN GỐC NHÀ NGUYỄN

NĂM 1533 ,NGUYỄN KIM TẠO DỤNG RA NAM TRIỀU ,ĐƯA LÊ DUY NINH LÊN NGÔI VUA ,ĐÓ LÀ VUA LÊ TRANG TÔNG .SAU KHI NGUYỄN KIM CHẾT ,CON RỂ LÀ TRỊNH KIỂM LÊN THAY ĐÃ ÂM MƯU SÁT HẠI NGUYỄN UÔNG VÀ NGYUỄN HOÀNG ( HAI CON CỦA NGUYỄN KIM ) THÂU TÓM MỌI QUYỀN HÀNH

 TRƯỚC TÌNH HÌNH ĐÓ ,NĂM 1558 NGUYỄN HOÀNG (CON THỨ CỦA NGUYỄN KIM ,TRƯỚC ĐÓ ANH LÀ NGUYỄN UÔNG BỊ TRỊNH KIỂM SÁT HẠI)  ĐÃ CÙNG GIA TỘC VÀ ĐÁM TÙY TÙNG CỦA MÌNH  VÀO NAM VÀ CÁT CỨ Ở ĐÂY LẬP RA ĐÀNG TRONG,KHỞI ĐẦU XÂY DỰNG CƠ ĐỒ HỌ NGUYỄN,TIỀN THÂN CỦA TRIỀU NGUYỄN SAU NÀY

A. TÊN VÀ MIẾU,THỤY HIỆU CỦA CÁC CHÚA NGUYỄN (1558-1777)

1.       NGUYỄN THÁI TỔ
                   (1558-1613)
  • TÊN THẬT : NGUYỄN HOÀNG
  • LÀ CON THỨ CỦA NGUYỄN TRIỆU TỔ ( NGUYỄN KIM )
  • TÊN TỤNG :CHÚA TIÊN ( TIÊN VƯƠNG )
  • MIẾU,THỤY HIỆU :THÁI TỔ GIA DỤ HOÀNG ĐẾ

2. NGUYỄN HY TÔNG
           (1613-1635 )
  • TÊN THẬT : NGUYỄN PHÚC NGUYÊN
  • LÀ CON THỨ 6 CỦA NGUYỄN THÁI TỔ
  • TÊN TỤNG : CHÚA SÃI ( SÁI VƯƠNG )
  •  MIẾU,THỤY HIỆU : HY TÔNG HIẾU VĂN HOÀNG ĐẾ

3. NGUYỄN THẦN TÔNG
               (1635-1648 )
  • TÊN THẬT : NGUYỄN PHÚC LAN
  • LÀ CON THỨ CỦA NGUYỄN HY TÔNG
  • TÊN TỤNG : CHÚA THƯỢNG ( THƯỢNG VƯƠNG )
  • MIẾU,THỤY HIỆU : THẦN TÔNG HIẾU CHIÊU HOÀNG ĐẾ

4. NGUYỄN THÁI TÔNG
            ( 1648-16887)
  • TÊN THẬT : NGUYỄN PHÚC TẦN
  • LÀ CON THỨ HAI CỦA NGUYỄN THẦN TÔNG
  • TÊN TỤNG : CHÚA HIỀN (HIỀN VƯƠNG )
  • MIẾU,THỤY HIỆU :THÁI TÔNG HIẾU TRIẾT HOÀNG ĐẾ

5. NGUYỄN ANH TÔNG
                (1687-1691)
  • TÊN THẬT : NGUYỄN PHÚC TRĂN
  • LÀ CON THỨ HAI CỦA NGUYỄN THÁI TÔNG
  • TÊN TỤNG : CHÚA NGHĨA (NGHĨA VƯƠNG )
  • MIẾU,THỤY HIỆU :ANH TÔNG HIẾU NGHĨA HOÀNG ĐẾ

6. NGUYỄN HIỂN TÔNG
                (1691-1725)

  • TÊN THẬT : NGUYỄN PHÚC CHU
  • LÀ CON TRƯỞNG CỦA NGUYỄN ANH TÔNG
  • TÊN TỤNG :QUỐC CHÚA (MINH VƯƠNG )
  • MIẾU,THỤY HIỆU :HIỂN TÔNG HIẾU MINH HOÀNG ĐẾ

7. NGUYỄN TÚC TÔNG
              (1725-1738)
  • TÊN THẬT: NGUYỄN PHÚC TRÚ
  • LÀ CON TRƯỞNG CỦA NGUYỄN HIỂN TÔNG
  • TÊN TỤNG :CHÚA NINH ( NINH VƯƠNG)
  • MIẾU,THỤY HIỆU :TÚC TÔNG HIẾU NINH HOÀNG ĐẾ

8. NGUYỄN THẾ TÔNG
               (1738-1765)
  • TÊN THẬT: NGUYỄN PHÚC KHOÁT
  • LÀ CON TRƯỞNG CỦA NGUYỄN TÚC TÔNG
  • TÊN TỤNG: CHÚA VÕ (VÕ VƯƠNG )
  • MIẾU,THỤY HIỆU :THẾ TÔNG HIẾU VŨ HOÀNG ĐẾ

9.NGUYỄN DUỆ TÔNG
         (1765-1777)
  • TÊN THẬT : NGUYỄN PHÚC THUẦN
  • LÀ CON THỨ 16 CỦA NGUYỄN THẾ TÔNG
  • TÊN TỤNG :CHÚA ĐỊNH (ĐỊNH VƯƠNG)
  • MIẾU,THỤY HIỆU : DUỆ TÔNG HIẾU ĐỊNH HOÀNG ĐẾ

B.THỜI KÌ BỊ CHIẾM QUYỀN,ĐỨT ĐOẠN VÀ CHÚA NGUYỄN TỰ XUNG VƯƠNG

NGUYỄN VƯƠNG
  (1777-1802)
* TÊN THẬT: NGUYỄN PHÚC ÁNH
*LÀ CON THỨ 3 CỦA NGUYỄN PHÚC LUÂN.
NGUYỄN PHÚC LUÂN LÀ CON THỨ 2 CỦA VÕ VƯƠNG (NGUYỄN THẾ TÔNG) NGUYỄN PHÚC KHOÁT.NHƯ VẬY,NGUYỄN PHÚC ÁNH GỌI VÕ VƯƠNG PHÚC KHOÁT LÀ ÔNG NỘI VÀ ĐỊNH VƯƠNG (NGUYỄN DUỆ TÔNG ) NGUYỄN PHÚC THUẦN BẰNG CHÚ (VÌ NGUYỄN PHÚC THUẦN LÀ EM TRAI CÙNG CHA KHÁC MẸ VỚI NGUYỄN PHÚC LUÂN-CHA CỦA NGUYỄN PHÚC ÁNH)
*ĐÂY LÀ THỜI KÌ NGUYỄN VƯƠNG ÁNH XUNG ĐỢT VỚI ANH ,EM NHÀ TÂY SƠN,ĐẾN NĂM 1802,VƯƠNG TRIỀU TÂY SƠN BỊ DIỆT,NHÀ NGUYỄN THÀNH LẬP VÀ CAI TRỊ TOÀN BỘ ĐẤT NƯỚC.

C.13 VỊ VUA NHÀ NGUYỄN

1.NGUYỄN THẾ TỔ
      (1802-1820)
*   TÊN THẬT :NGUYỄN PHÚC ÁNH
  • LÀ CON CỦA NGUYỄN PHÚC LUÂN ,CHÚ LÀ NGUYỄN DUỆ TÔNG( NGUYỄN PHÚC THUẦN) VÀ CHÁU NỘI CỦA NGUYỄN THẾ TÔNG( NGUYỄN PHÚC KHOÁT)
  • NIÊN HIỆU :GIA LONG
  • MIẾU,THỤY HIỆU: THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

2.NGUYỄN THÁNH TỔ
            (1820-1840)
*TÊN THẬT: NGUYỄN PHÚC ĐẢM(NGUYỄN PHÚC HIỆU)
*LÀ CON THỨ 4 CỦA NGUYỄN THẾ TỔ
*NIÊN HIỆU:MINH MẠNG
*MIẾU,THỤY HIỆU: THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

3.NGUYỄN HIẾN TỔ
        (1841-1847)
*TÊN THẬT: NGUYỄN PHÚC MIÊN TÔNG
*LÀ CON TRƯỞNG CỦA NGUYỄN THÁNH TỔ
*NIÊN HIỆU:THIỆU TRỊ
*MIẾU,THỤY HIỆU:HIẾN TỔ CHƯƠNG HOÀNG ĐẾ

4.NGUYỄN DỰC TÔNG
      (1848-1883)
*TÊN THẬT: NGUYỄN PHÚC HỒNG NHẬM(NGUYỄN PHÚC THÙY)
*LÀ CON THỨ 2 CỦA NGUYỄN HIẾN TỔ
*NIÊN HIỆU:TỰ ĐỨC
*MIẾU,THỤY HIỆU:DỤC TÔNG HÒA HOÀNG ĐẾ

5.NGUYỄN CUNG TÔNG
                (1883)
TÊN THẬT:NGUYỄN PHÚC ƯNG CHÂN
*LÀ CON CỦA NGUYỄN PHÚC HỒNG Y.ĐƯỢC NGUYỄN DỤC TÔNG NHẬN LÀM CON NUÔI VÀ TRUYỀN NGÔI.
*NIÊN HIỆU: DỤC ĐỨC
*MIẾU,THỤY HIỆU:CUNG TÔNG HUỆ HOÀNG ĐẾ

6.NGUYỄN HIỆP HÒA
          (  1883)
*TÊN THẬT :NGUYỄN PHÚC HỒNG DẬT (NGUYỄN PHÚC THĂNG)
*LÀ CON ÚT CỦA NGUYỄN HIẾN TỔ,EM TRAI CỦA VUA NGUYỄN DỤC TÔNG.
*NIÊN HIỆU:HIỆP HÒA
*THỤY HIỆU: VĂN LÃNG QUẬN VƯƠNG

7.NGUYỄN GIẢN TÔNG
             (1884)
*TÊN THẬT: NGUYỄN PHÚC ƯNG ĐĂNG
*LÀ CON KIÊN THÁI VƯƠNG (NGUYỄN PHÚC HỒNG CAI)
*NIÊN HIỆU:KIẾN PHÚC
*MIẾU,THỤY HIỆU:GIẢN TÔNG NGHỊ HOÀNG ĐẾ

8.NGUYỄN HÀM NGHI
          (1884-1888)
*TÊN THẬT: NGUYỄN PHỨC ƯNG LỊCH(NGUYỄN PHÚC MINH)
* LÀ CON CỦA KIÊN THÁI VƯƠNG (NGUYỄN PHÚC HỒNG CAI),EM RUỘT CỦA NGUYỄN GIẢN TÔNG
*NIÊN HIỆU: HÀM NGHI
*MIẾU ,THỤY HIỆU: CHƯA RÕ

9. NGUYỄN CẢNH TÔNG
         (1885-1888)
*TÊN THẬT :NGUYỄN PHỨC ỨNG XUY
*LÀ CON LÀ CON CỦA KIÊN THÁI VƯƠNG (NGUYỄN PHÚC HỒNG CAI),ANH RUỘT CỦA NGUYỄN GIẢN TÔNG VÀ HÀM NGHI
*NIÊN HIỆU:ĐỒNG KHÁNH
*MIẾU,THỤY HIỆU: CẢNH TÔNG THUẦN HOÀNG ĐẾ

10.NGUYỄN THÀNH THÁI
         (1889-1907)
*TÊN THẬT: NGUYỄN PHÚC BỬU LÂN(NGUYỄN PHÚC CHIÊU)
*LÀ CON CỦA NGUYỄN CUNG TÔNG
*NIÊN HIỆU:THÀNH THÁI
*THỤY HIỆU: HOÀI TRẠCH CÔNG HOÀNG ĐẾ

11. NGUYỄN DUY TÂN
          (1907-1916)
*TÊN THẬT: NGUYỄN PHÚC VĨNH SAN(NGUYỄN PHÚC HOẢNG)
*LÀ CON CỦA VUA NGUYỄN THÀNH THÁI
*NIÊN HIỆU: DUY TÂN
*MIẾU,THỤY HIỆU:CHƯA RÕ

12.NGUYỄN HOẰNG TÔNG
           (1916-1925)
*TÊN THẬT: NGUYỄN PHÚC BỬU ĐẢO(NGUYỄN PHÚC TUẤN)
*LÀ CON CỦA NGUYỄN CẢNH TÔNG
*NIÊN HIỆU: KHẢI ĐỊNH
*MIẾU,THỤY HIỆU:HOẰNG TÔNG TUYÊN HOÀNG ĐẾ

13.NGUYỄN BẢO ĐẠI
        (1925-1945)
*TÊN THẬT: NGUYỄN PHÚC VĨNH THỤY(NGUYỄN PHÚC THIỂN)
*LÀ CON CÙA NGUYỄN HOẰNG TÔNG
*NIÊN HIỆU: BẢO ĐẠI
*MIẾU,THỤY HIỆU: KHÔNG RÕ

TÓM LẠI,DÒNG HỌ NHÀ NGUYỄN TỪ NGUYỄN HOÀNG( NĂM 1558) CHO ĐẾN BẢO ĐẠI ( NĂM 1945) CAI TRỊ NƯỚC TA TRONG 5 THẾ KỈ (500 NĂM CAI TRỊ) VỚI 9 CHÚA VÀ 13 ĐỜI VUA..TUY CŨNG CÓ MỘT GIAI ĐOẠN BỊ CHIẾM QUYỀN (1777-1802),NHƯNG CHÚA NGUYỄN VẨN XƯNG VƯƠNG VÀ CHIẾM LẤY VÙNG ĐẤT NAM BỘ NGÀY NAY.QUA ĐÂY TA THẤY ĐÂY LÀ DÒNG HỌ CAI TRỊ NƯỚC TA LÂU NHẤT TRONG LỊCH SỬ,XẾP THỨ HAI LÀ DÒNG HỌ NHÀ HẬU LÊ (1428-1778).

YOUNG BE A:
 


























Nguồn: Trang trí blog mùa giáng sinh với hiệu ứng tuyết rơi, ông già Noel và giàn chuông cực hot | Sử Minh Thành http://smthanh.blogspot.com/2012/12/trang-tri-blog-mua-giang-sinh-voi-hieu.html#ixzz2RLJerMpo Follow us: @suminhthanh on Twitter | smthanh on Facebook