Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

Hoàng Đế Lê Thánh Tông

                                          Thụy hiệu: Thánh Tông Thuần Hoàng đế



I.                    Khaùi quaùt veà thaân theá vua Leâ Thaùnh Toâng:
 
Chân dung Lê Thánh Tông
Lê Thánh Tông, tự là Tư Thành, còn có tên là Hạo, hiệu Thiên Nam Động Chủ. Ông là con Thái Tông và bà Ngô Thị Ngọc Dao – con gái thái bảo Ngô Từ, một công thần khai quốc của nhà Lê, Ông là con trai thứ tư và cũng là con trai út của Thái Tông. Sinh ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), tại nhà ông ngoại ở Mạn Tây Nam Quốc Tử Giám, nay là khu đất chùa Huy Văn, Hà Nội. Là một trong những Ông vua ở ngôi lâu nhất trong lịch sử các Ông vua ở Việt Nam.
Lê Tư Thành vốn không phải là người sẽ kế vị, theo chính danh. Từ nhỏ, ông được giáo dục ở Quốc Tử Giám, giống như người anh cùng cha khác mẹ là Lê Nhân Tông (Lê Bang Cơ - con bà Nguyễn Thị Anh) đang làm vua Đại Việt.
Năm 1459, người anh cả cùng cha khác mẹ của ông là Lê Nghi Dân tiến hành đảo chính và giết Lê Nhân Tông lên ngôi. Tư Thành không bị vua anh sát hại trong vụ này.
Chín tháng sau, một cuộc đảo chính thứ hai do Nguyễn Xí và Đinh Liệt cầm đầu đã giết chết Lê Nghi Dân. Nguyễn Xí và Định Liệt là hai tướng thân cận của Lê Lợi vẫn còn sống sót sau các biến cố chính trị kể từ khi Lê Lợi chết. Ban đầu, các đại thần định mời anh thứ 2 của Tư Thành là Lê Khắc Xương (em Nghi Dân, anh Bang Cơ) lên ngôi nhưng Khắc Xương từ chối không muốn nhận ngôi báu. Họ đề nghị Lê Tư Thành ra làm vua và ông đã chấp thuận.
Ngày 8 tháng 6, năm Canh Thìn 1460, Lê Tư Thành lên ngôi, lấy niên hiệu là Quang Thuận. Năm đó, Hoàng đế mới 18 tuổi. Ông chỉ định Nguyễn Xí và Đinh Liệt vào các chức quan cao nhất của triều đình, nắm giữ binh quyền.
Trong lúc trị vì, ông đã đưa ra nhiều cải cách trong hệ thống quân sự, hành chính, kinh tế, giáo dục và luật pháp. Ông cũng đã mở mang bờ cõi nước Đại Việt bằng cách đánh chiếm thủ đô của nước Chiêm Thành, sát nhập một phần lãnh thổ Chiêm Thành vào Đại Việt; đồng thời có cuộc hành quân về phía Tây đất nước. Ông trị vì từ năm 1460 đến 1497 và được nhiều nhà sử học đánh giá là một trong những vị vua tài ba trong lịch sử Việt Nam. Ông cũng được coi là nhà văn hóa và là người coi trọng người hiền tài. Thụy hiệu do vua Lê Hiến Tông đặt là Sùng Thiên Quảng Vận Cao Minh Quang Chính Chí Đức Đại Công Thánh Văn Thần Vũ Đạt Hiếu Thuần Hoàng Đế.
II.                  Nhaân caùch vaø söï nghieäp vua Leâ Thaùnh Toâng
Leâ Thaùnh Toâng moät con ngöôøi hieáu nghóa
Ngay sau khi lên ngôi vua, vua liền tôn phong mẹ Ngô Thị Ngọc Dao làm Quang  Phục Hoàng Thái Hậu và đích thân ra chùa Huy Văn đón mẹ vào cung, Hoàng Thái Hậu thói thác không nghe vua Lê Thánh Tông đành chìu theo ý mẹ, bèn ra lệnh cho tu sửa lại chùa và cho xây điện tại chùa để Hoàng Thái Hậu ở, hàng tuần thường lệ ra thăm mẹ. Tôn tạo lại Phúc Quang Từ Đường tại làng Xuân Thượng, hương Đồng Bảng, huyện Yên Định, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hóa do vua Lê Thánh Tông xây dựng thờ dòng dỗi Hưng Quốc Công Ngô Kinh, Dụ vương Ngô Từ.
Năm Quý mùi, niên hiệu Quang Thuận thứ hai (1461), vua về thăm Lam Kinh, đến thăm quê ngoại,  bèn báo hiếu cho mẹ, đã cho dựng Thuần Mẫu Đường ngay trên nền đất mẹ đã chào đời để mẹ có dịp về que hương khói cho ông bà cha mẹ của mình.
Năm Canh Thìn 1472, Hồng Đức thứ III, vua Thánh Tông vân mệnh Hoàng Thái Hậu về quê ngoại tham Thuần Mẫu Đường, thương yêu mẹ, vua bèn  cho xây dựng điện Thừa Hoa, về sau tục gọi là “Phủ nhi” ở Đồng Phang quê mẹ để có dịp mẹ về quê yên ở và làm nơi phụng trị mẹ khi mẹ lâm chung. Điện Thừa Hoa được xây gần Từ Đường Phúc Quang họ Ngô và Thuần Mẫu Đường tại nền đất cũ do Thượng Thư minh triều Hoàng Phúc trước đây chọn.
Đối với quốc gia dân tộc, vua Lê Thánh Tông ở ngôi Hoàng Đế chí tôn, nhưng đối với mẹ trong gia đình, lúc nào Thánh Tông cũng đặt mình ở vị trí người con, không nề hà thức khuya, dậy sớm, không quản công lao khó nhọc. Mặc dù quốc gia da đoan lắm chuyện, nhưng vua Lê Thánh Tông vẫn giành nhiều giờ ở bên mẹ để săn sóc từ lúc ăn cho đến lúc ngủ.
Nhà vua thường đọc sách ngâm thơ, kể chuyện cổ tích pha lẫn hài hước để mẹ vui, vua hết sức lưu ý chìu chuộng mẹ. Mỗi khi mẹ có điều gì buồn bực, vua hết lòng vỗ về, tự nhận mọi việc là do mình gây nên, và cúi đầu xin mẹ thứ tha. Mỗi khi mẹ ốm vua ở luôn bên mẹ, năng giấc gầu hạ, tự tay vua sắc thuốc và bưng thuốc cho mẹ uống, săn sóc mẹ rất cẩn thận và chu đáo; có lúc bận việc không tự tay sắc thuốc cho mẹ, thì tì nữ sắc thuốc nhưng chính vua rót thuốc và nếm thử trước khi đưa mẹ uống.
Khi mời mẹ dùng cơm chay hay những món ăn khác, vua dều nếm xông, có ngon và hợp với khẩu vị của mẹ không thì mới dám bưng vào dâng lên mẹ. Mẹ vua là người rất sùng đạo Phật, ở tu tại chùa Huy Văn ngoài Hoàng cung, sự gặp gỡ Hoàng cung đi lại khó  khăn. Vua bèn chìu theo ý của mẹ cho xây dựng ngôi chùa nguy nga lộng lẫy tại Hoàng cung rồi đón mẹ đến ở đó.
Đối với bà Phùng Thị Thuận nhạc mẫu, vua cũng rất mực cung kính, săn sóc như mẹ ruột. Khi nhạc mẫu vào kinh để dự lễ đăng quang, vua mời nhạc mẫu vào ở ngay trong Hoàng cung với mẹ đẻ để phụng dưỡng hai mẹ như một. Vua Lê Thánh Tông là một người thấm nhuần đạo đức nho học uyên bác nhưng cũng là người sùng bái đạo Phật – tôn giáo mà mẹ mình sùng bái, tín ngưỡng, chính vua đã cho xây dựng chùa Hương Tích ở Hà Đông thành một danh lam thắng cảnh ở Bắc Hà và trở thành một di tích quốc gia tầm cỡ.

Vua Lê Thánh Tông rất coi trọng việc đào tạo nhân tài ,phát triển đất nước

BIA TIẾN SĨ
Vua Lê Thánh Tông rất chú trọng đến việc đào tạo nhân tài ra giúp nước qua đường thi cử. Kể từ năm Quang Thuận thứ 4 (1463) đến năm Hông Đức thú 27 (1496), nhà vua liên tiếp cho mở 12 khoa thi đình do đích thân nhà vua chủ trì và khảo hạch. Trong 12 khoa thi đó đã tuyển chọn đúng cách 10 Trạng Nguyên, 10 Bảng Nhãn, 10 Thám Hoa, và 472 Hoàng Giáp cùng Tiến sĩ. Nhiều người nổi danh như thân nhân trung, Thái Thuận đào cử, Lương Thế Vinh, Nguyễn Trực, Lê Trực, Quách Đình Bảo… Vua Lê Thánh Tông rất quan tâm đến việc hưng thịnh của đất nước, mở mang dân trí, vua là người đầu tiên cho mở nhiều thái học, dựng nhà nội trú sinh viên, lập bí thư để chứa sách vỡ, dựng bia tại văn miếu để ghi tên những người đỗ đạt từ tiến sĩ trở lên, nước ta có văn bia từ đó. Trong các thời đại đế chế của nước ta chưa có thời nào sự nghiệp giáo dục đào tạo nhân tài lại phát triển mạnh mẽ đạt đến đỉnh cao như thời vua Lê Thánh Tông, chưa bao giờ trí thức lại được trọng vọng và được tạo điều kiện thuận lợi để phát huy tài trí phục vụ quốc gia như đời vua Lê Thánh Tông đã làm.
Kiến thức uyên bác của  vau Lê Thánh Tông không phải để ngâm vịnh cho vui, nhà vua đã sử dụng nó để rèn luyện nhân cách, nâng cao tầm trí tuệ của bản thân, ngỏ hàu xứng đáng với trách nhiệm người trị vì của đất nước nổi tiếng là văn hiến.
Vua Lê Thánh Tông có quan niệm ở ngôi vua không phải là để hưởng thụ, ăn chơi nhàn hạ, mà phải nhọc nhằn, vất vả với mục đích cao cả hơn là:
“Điều hòa muôn việc theo thời tiết
Khắp chốn hân hoang hưởng thái bình”
Nhà vua đã sử dụng tài năng văn chương, sức mạnh trí tuệ của mình để chỉ đạo công cuộc xây dựng phát triển kinh tế xã hội, cũng cố quốc phòng, bảo đảm cho đất nước độc lập, nhân dân Đại Việt được hưởng thái bình thịnh trị, an cư, lạc nghiệp.
Tài năng lãnh đạo của vua còn biểu hiện ở chổ vua đã nhận thức, ý thức trách nhiệm và khả năng tập hợp quanh mình những tài năng trí tuệ lỗi lạc của đất nước lúc gấy giờ.
Qua việc xướng họa thơ văn của Hội Tao Đàn vua Lê Thánh Tông đã rút ngắn khoảng cách giữa vua tôi, lắng nghe được ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của quyền thần tài giỏi để tự sữa mình, phát hiện được những phẩm chất, năng lực của những kẽ dưới trướng để cất nhắc sử dụng trong mục đích xây dựng đất nước phồn vinh.
Thưở bé thơ vua Lê Thánh Tông ở với mẹ ngoài cung đình, thời niên thiếu lại du hành khắp  đó đây trong nước, được tiếp xúc với cuộc sống đời thường của người lao động, lên làm vua, mặc dù bề bận công việc nhưng vua cũng năng động đi khắp chốn khắp nơi. Do đó nhà vua hiểu được tình cảm sâu sa của nhân dân, diễn biến của cuộc sống trong xã hội, và với trí tuệ minh mẫn, óc sáng tạo của mình, khả năng tập hợp các trí tuệ của quần thần, kịp thời đưa ra các giải pháp hữu hiệu đưa đất nước đạt tới cực thịnh so với các triều vua trước và sau đó.

Vua Lê Thánh Tông trong việc xây dựng luật pháp

Sau khi đuổi giặc ra khỏi nước. Đức Thái Tổ Cao Hoàng đế Lê Lợi đã la ngay đến việc lập luật pháp. Các vua Lê Thái Tông, và Lê Nhân Tông ban hành thêm một số điều luật về xét xử, kiện tụng, sở hữu tài sản. Năm 1483, dưới sự trị vì của vua Lê Thánh Tông, Ông đã cho ra đời bộ “Luật Hồng Đức”. Bộ luật gồm 722 điều, và được chia thành 16 chương. Đây là bộ luật hoàn hảo, quy mô và cũng là bộ luật đầu tiên của nước ta có giá trị lâu đời đối với lịch sử thế giới trong niềm tự hào dân tộc. Trong 722 điều của “Luật Hồng Đức” có 49 điều thuộc về nguyên tắc chung và 673 điều quy định về các tội phạm cụ thể. Trong 63 điều quy định về các tội ohamj đó có đến 172 điều có nội dung quy định tội phạmn của các quan lại và các nhà quý tộc. Điều đó phản ánh khá rõ nét tính dân tộc và hoàn toàn đúng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm trong hàng ngũ quan lại và con nhà quý tộc, bao gồm 10 tội ác xúc phạm đến lòng trung với vua với nước, tội xâm phạm đến trách vụ của nhà vua giao phó, tội xâm phạm đến quyền lợi của dân.
Bộ luật Hồng Đức được lưu lại đến ngày nay bao gồm 13 chương với 700 điều, nội dung cơ bản của bộ luật như sau:
* Giữ cho đất nước luôn ở thế chủ động đối phó với quân xâm lược nước ngoài
* Giữ nghiêm kỷ cương, phép nước;
 * Chấn hưng nông nghiệp, coi nông nghiệp là nền tảng của sự ổn định kinh tế xã hội;
* Mở rộng giao lưu khuyến khích thủ công nghiệp, thương nghiệp lành mạnh
 * Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của muôn dân, chống tham nhũng triệt để, chống sự lạm quyền và ức hiếp dân chúng.
* Khuyến khích nuôi dưỡng thuần phong mỹ tục;
* Bênh vực và bảo vệ quyền lợi phụ nữ;
* Chính sách hình sự nghiêm minh nhưng nhân đạo.
Lê Thánh Tông là người thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đã ban hành. Một lần, ông đã thu lại quyền chỉ huy của tổng quân đô đốc Lê Thiệt vì con trai Lê Thiệt giữa ban ngày phóng ngựa trên đường phố và dung túng gia nô đánh người. Lê Thánh Tông thường bảo với các quan rằng: "Pháp luật là phép tắc chung của Nhà nước, ta và các người phải cùng tuân theo".
Đối với bộ “Luật Hồng Đức” thời gian không chỉ là sự thử thách. Thời gian càng trôi qua, Bộ luật càng trở nên sáng giá về nhiều mặt cho hậu thế, cho từng người và cho cả nước, cho những người chịu sự quản lý, và cho cả những người được giao thực hiện công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Hơn năm trăm năm trôi qua mà bộ luật vẫn còn có những điều còn mới mẽ, và đúng thực trạng như ngày nào. Một bộ luật có thể nói là tuyệt vời, là đỉnh cao của thời đại, một thời đại cường thịnh, huy hoàng của nhà nước Đại Việt mà vua Lê Thánh Tông la nhà lãnh đạo đầy tài năng và sáng suốt.

Vua Lê Thánh Tông trong việc cải cách hành chính

Phàm lệ, những cải cách sáng suốt hiệu quả, kịp thời về hành chính, về quản lý đáp ứng được những yêu cầu cấp bách thiết thực có thể làm tăng năng xuất lao động vượt trội lên đến 200 – 300%, thậm chí còn có thẻ cao hơn nữa. Ngược lại dù có tìm năng, có đầy đủ cơ sở vật chất trong tay nhưng cách quảm lý chậm tiến lạc hậu trì trệ với chế độ hành chính bảo thủ quan liêu, cửa quyền, làm mất lòng dân, không bao lâu nhà nước xã hội đứng trước nguy cơ bị xô đẩy vào những cuộc khủng hoảng triền miên sâu sắc nếu không nói là sụp đổ
Đó là những kết luận mà nhiều học giả, nhiều chính trị gia, nhiều nhà kinh doanh đương thời đều chấp nhận. Đem ứng dụng vào lịch sử nước nhà, đặc biệt là vào thời vua Lê Thánh Tông, chúng ta có thể cho rằng luận điểm này là hoàn toàn đúng.
Trong quá trình trị vì, vua Lê Thánh Tông đã kiên trì tiến hành cách tân, cải tổ nền hành chính quốc gia, thể hiện qua 4 khâu trọng yếu là

Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước từ Trung Ương đến địa phương

ü      Gọn nhẹ và có hiệu lực, không có những thủ tục rườm rà, bãi bỏ các chức trung gian như: tướng quốc, Bộc xạ, Tư dồ…
ü      Chọn những người thật sự có tài có đức, trí công vô tu, vì đất nước vì dân tộc
ü      Loại bỏ kịp thời những tệ nạn, tham quan, ô lại, những người không xứng chức.
Các đời vua trước Lê Thánh Tông thường giao quyền điều khiển trực tiếp các quan lại cho một vị Tể tướng hay Tướng quốc. Đến thời Lê Thánh Tông, thì Ông đã bỏ đi chức Tể tướng, và trực tiếp quản lý các quan lại, nắm trọn quyền trong tay, bằng cách như vậy nhà vua đã buộc mình phải ngày đêm suy nghĩ lo toan việc nước. Ở đỉnh cao của quyền lực nhà vua không để cho mình đắm say vào việc hưởng lạc rồi xao nhãng việc triều chính như các vị vua tiền hiệm mắc phải. Và cúng với biện pháp đó nhà vua đã bỏ được nguy cơ lộng quyền lấn áp vua, hay lật đổ vua của quan đầu triều
Để lo toan công việc sự vụ, hàng ngày, vua Lê Thánh Tông đã tổ chức các cơ quan giúp việc:
Hàn lâm viện: cơ quan làm nhiệm vụ soạn thảo các vụ, chiếu, chỉ cùng các mệnh lệnh khác của vua
Đông các: các cơ quan làm nhiệm vụ rà soát, sửa lại các văn bản do Hàn Lâm Viện soạn thảo trước khi trình lên vua duyệt
Trung thư giám: cơ quan chuyên ghi chép, lưu giữ các sắc lệnh, tước hiệu do nhà vua sắc phong cho những người trong hoàng tộc.
Bí thư giám: cơ quan lưu trữ và trông coi thư viện của nhà vua
Hoàng môn đỉnh: nơi giữ ấn tín của nhà vua
Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê Thánh Tông đành lập 6 bộ với những nhiệm vụ được quy định rất rõ ràng (Đời Trần chỉ cs 4 bộ là Hình, Lại. Binh, Hộ; đời Lê Thái Tổ chỉ có 3 bộ là: Lễ, Lại, Dân.
Lại bộ: trông coi việc tuyển bổ, thăng thưởng và thăng quan tước
Lễ bộ: trông coi việc tổ chức, xếp đặt và tiến hành các nghi lễ, yến tiệc, học hành, thi cử…
Hộ bộ: trông coi việc ruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tô thuế, lương bổng của quan, binh
Binh bộ: trông coi việc quân đội, đặt quan trấn thủ nơi biên cảnh, tổ chức việc giữ gìn, bảo vệ các nơi hiểm yếu
Hình bộ: trông coi việc thi hành luật pháp lệnh, hình pháp, xét lại các việc tù đày, kiện cáo.
Công bộ: trông coi việc xây dựng, sửa chữa cầu đường cung điện, thành trì và quản đốc thợ thuyền.
Lê Thánh Tông còn tổ chức ra một số cơ quan chuyên môn không lệ thuộc vào 6 bộ như:
Thông chính ty: cơ quan trông coi việc chuyển đạt công văn, chỉ dụ của triều đình tới các nơi khác
Quốc tử giám: cơ quan giáo dục cao nhất trong nước giữ nhiệm vụ trông coi Văn Miếu, đền thờ Khổng Tử và lưu giữ văn bia các vị thi đỗ trong các kỳ thi hương.
Quốc sử viện: cơ quan giữ việc ghi chép, biên soạn lịch sử, nhà vua nói gì, làm gì, ưa chuộng những gì… Quốc sử viện ghi chép trung thưc để lưu lại làm guơng cho đời sau. Nhà vua đương nhiệm không được quyền đọc những điều ghi chép về nhà vua và Hoàng tộc.
Nhằm khuyến khích, mở mang nông nghiệp, dựa trên quan niệm: “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ” làm nền tảng. Vua Lê Thánh Tông cho lập ra 4 sở chuyên môn (sở đồng điền, sở tầm tang, sở thực thái, sở điền mục).
Để kiểm tra, giám sát công việc của 6 bộ, vua Thánh Tông cho lập ra 6 khoa và Ngự sử đài 6 khoa gắn liền với công việc của 6 bộ là: Lại khoa, Lễ khoa, Hộ khoa, Hình khoa, Công khoa, và Binh khoa.
Theo cách tổ chức và phân định nhiệm vụ của các Bộ, các Khoa, các Ngự sử đài, và các cơ quan hỗ trợ khác, Vua Thánh Tông đã giám sát, kiểm soát bộ máy chặt chẽ bộ máy thừa hành. Không một bộ nào hay một viên quan nào có thể lộng hành thao túng pháp luật, kỷ cương hoặc đứng ra ngoài sự giám sát của nhà vua.

Tổ chức bộ máy chính quyền địa phương của vua Lê Thánh Tông

Đời vua Lê Thái Tổ toàn bộ lãnh thổ vương quốc Đại Việt được chia làm 5 đạo:
Đông đạo gồm các lộ Thượng Hông, Hạ Hồng, Thượng Sách, Hạ Sách, và trấn An Bang
Tây đạo gồm các trấn Tuyên Quang, Tam Giang, Hưng Hóa, và Gia Hưng
Bắc đạo gồm các trấn Bắc Giang, Lạng Giang, và Thái Nguyên
Nam đạo gồm các lộ Khoái Châu, Lý Nhân, Tân Hưng, Kiến Xương, và Thiên Trường.
Hải tây đạo gồm các lộ: Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình, và Thuận Hóa
Đến tháng 6 năm 1446, niên hiệu Quang Thuận thứ 7, vua Lê Thánh Tông ra sắc chỉ chia toàn bộ lãnh thổ Vương quốc Đại Việt thành 12 đạo Thừa Tuyên gồm:
1.      Thanh Hóa
2.      Nghệ An
3.      Thuận Hóa
4.      Nam Sách (Hải Dương)
5.      Thiên Trường (Sơn Nam)
6.      Quốc Oai (Sơn Tây)
7.      Bắc Giang (Kinh Bắc)
8.      An Bang
9.      Hưng Hóa
10. Tuyên Quang
11. Thái Nguyên
12. Lạng Sơn
Năm 1471, sau đại thắng quân Chiêm vua Lê Thánh Tông đã sáp nhập vùng đất từ Nam đèo Hải Vân đến tận dèo Đại Lãnh vào lãnh thổ nước Đại Việt đặt tên là Quảng Nam đạo Thừa Tuyên. Đó là đạo thứ 13 của nước ta và địa danh Quảng Nam cũng bắt đầu có từ đó.
Đứng đầu mõi đạo Thừa Tuyên (còn gọi là xứ) có 3 ty:
Ø           Đô Ty: phụ trách quân đội, giữ gìn an ninh.
Ø           Thừa Ty: phụ trách công việc hành chính, dân sự, thuế khóa, hộ tịch
Ø           HiếnTy: phụ trách việc thanh tra quan lại, việc xử án, thi hành pháp luật.
Sau khi nghiên cứu công phu về Lê Thánh Tông, một sử gia người Pháp tên là May – Bon đã có nhận xét: “Nhà vua tỏ ra là một nhà cai trị khôn khéo và ta cố thể nói rằng, tổ chức của nước Nam đã bắt đầu từ đời này”.
Caûi caùch veø cheá ñoä tuyeån choïn vaø söû duïng quan chöùc
Hơn ai hết vua Lê Thánh Tông thấy được sự lộng quyền tại các địa phương cũng như Trung Ương cảu các quan lại. Do đó, nhà vua, ngay sau khi lên ngôi đã kiên trì thực hiện quan điểm: “Trăm quan là nguồn gốc của trị, loạn. Người có đức, có tài nhậm chức thì trị, người vô tài thất đức nắm giữ quyền hành thì loạn”. Trên quan điểm tuyển dụng người có đức có tài để giao phó trọng trách trị nước an dân làm điều hệ tọng suốt 38 năm ở ngôi của vua.
Vấn đề cha truyền con nối là quan điểm muôn thuở của ý thức hệ đế chế trong duy trì quyền lực, vua Lê Thánh Tông vẫn coi trọng xuất xứ của dòng máu truyền thống. Và đồng thời để tưởng nhớ công lao các đại thần có công với đất nước và Hoàng tộc. Nhà vua vẫn phong tước phong quan cho họ. Nhưng tước, hàm đó chỉ là tản quan, hư hàm có nghĩa là không có chức, có quyền thực sự, chủ yếu là nhà vua tuyển chon người có tài, có dức ra gánh các việc nước căn cứ vào nguồn gốc xuất thân, được đặt ra 3 tiêu chuẩn tuyển lựa:
Cảnh nho sỹ đi thi-Minh họa

Cảnh nho sĩ đi thi
 

Thi tuyển: Căn cứ vào trình độ học vấn, đỗ đạt qua các kỳ thi Hương, thi Hội, thi  Đình.Những người không đỗ bằng cấp (bạch thân), mà có quân công cũng có thể được bổ dụng làm quan võ, theo định kỳ họ cũng được xét thăng thưởng, nhưng chỉ được thăng đến tôtr đỉnh là hàm: “Tam phẩm” thôi. Tất cả mọi người trong nước không kể nguồn gốc xuất thân đều được phép dự thi. Thi Hội đỗ mới được phép dự thi Đình. Thi Đình đỗ thì được chia làm 3 hạng gọi là 3 giáp:
Ä           Hạng nhất gồm 3 danh: Đệ nhất danh (tức Trạng Nguyên); Đệ nhị danh (tức Bảng Nhãn); Đệ tam danh (tức Thám hoa). Cả 3 người này gọi là “Tam khôi”
Ä           Hạng nhì: gọi chung là Hoàng giáp
Ä           Hạng ba: gọi chung là Tiến sĩ
Nhà vua quy định rất nghiêm ngặt, gắt gao trong vấn đề thi cử đối với quan chấm thi, người dự thi, người dấu sách vỡ đem vào trường thi…
Bảo cử: Việc thi cử thời trước tiến hành không định kỳ, thường thì cứ 3 – 4 năm thì có một kỳ thi Hộ thi Đình, gặp những lúc biến quốc, triều suy thì hàng chục năm mới có một kỳ thi. Để thu hút thật sự những người có tài có đưc ra gánh vác việc nước. Vua Lê Thánh Tông bèn đặt ra lệ “Bảo cử”. Trong bảo cử, người đứng ra bảo cử phải lấy tước vị phảm hàm của mình ra bảo đảm rằng người được bảo cử xứng tài, xứng chức có đức hạnh, xứng đáng được giao chức vị cho họ. Theo điều 174 luật Hồng Đức “Những người làm nhiệm vụ cử người mà không cử được người giỏi thì bị biếm hoặc bị phạt theo luật nặng nhẹ, nếu vì tình riêng hoặc lấy tiền thì xử tội nặng thêm hai bậc. Cụ thể, năm Quang Thuận thứ 8 (1467), vào ngày 20/12 vua xuống chiếu giam Lương Như Ngọc vì tiến cử Trần Quý Huyên không ohair là người tài giỏi, thu lại văn bằng của Quý Huyên.
Việc bảo cử chỉ được tiến hành với những chức danh đang khuyết. Ngườ bảo cử phải lập hồ sơ về người được bảo cử trình lên Lại bọ xét.
Tập ấm: các con và cháu đức tôn của các vị quan Công, Hầu, Bá, Tử, Nam là các tước của vua phong cho các con của anh trai, chị em gái nhà vua. Con trưởng của các quan van, quan võ từ bát phẩm đến nhất phẩm nếu được nhận xét là có khiếu chăm học thì cho được vào học ở Chiêu Văn quán. Cứ 3 năm 1 lần quan Tư Huấn phải tâu đầy đủ hạnh kiểm, tánh nết, học vấn của con cháu các quan nói trên lên bộ Lễ đẻ tổ chưc thi Khảo. Ai đô thì được bổ vào các chưc thư lại. Muốn được bổ nhiệm làm quan thì phải đỗ trong các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình. Những người không đỗ đều có sức khẻo thì được sung vào ngạch võ giai
Với lệ tập ấm, vua Lê Thánh Tông đã tạo điều kiện thuận lợi cho những người trong Hoàng tộc và con cháu các quan đại thần, có công với triều đại, được trao dồi học tập nâng cao kiến thức và tu dưỡng đạo đức để đảm đương tốt việc nước, với điều kiện phải thi đỗ trong các kỳ thi. Làm như vậy, nhà vua vừa có được những người tài đức có năng lực đáng tin cậy để lo cho nước. Đấy cũng là cách thể hiện sự trọng đãi đối với những người thuộc dòng họ nhà  vua và đông thời biết ơn đối vỡi những bậc huân công cũng như ngăn ngừa được tệ nạn ỷ thế, ỷ quyền sắp ép dân chúng của con cháu lớp người quyền quý.

Phuïc hoài vaø phaùt trieån kinh teá

Chế độ hà khắc tham tàn bạo ngược của nhà Minh trong suốt 20 năm đô hộ và hàng chục năm chiến tranh giải phóng của khởi nghĩa Lam Sơn, đã tàn phá nghiêm trọng nền kinh tế nước ta vốn đã suy yếu trong những thập kỷ cuối thời Trần đến chỗ cạn kiệt. Đồng ruộng, làng sớm điêu tàn, nhân dân phiêu tán. Thủ công, thương nghiệp suy sụp. Sau khi đất nước được độc lập, nhà nước và nhân dân với ý thức tự hào dân tộc sâu sắc đang vươn cao. Vua Lê Thái Tổ, bằng tài năng kiệt xuất của mình, đã lãnh đạo nhân dân khắc phục hậu quả do chính sách đô hộ, sự suy tàn thời Trần, cùng với chiến tranh để lại, nhanh chống khôi phuch sản xuất, hàn gắn các vết thương chiến tranh. Và đến đời vua Lê Thánh Tông, bằng tài năng và kiến thức sẳn có của vị minh quân, đưa nền kinh tế nước nhà phát triển nhanh chống, rực rở, ở thời trị vì của vua.
Những nỗ lực nhằm xây dựng phát triển Đại Việt của Lê Thánh Tông đã được kiểm chứng qua các bài chiếu, chỉ dụ do ông trực tiếp chấp bút và ban bố, như Chiếu khuyến nông, Chiếu lập đồn điền, Chiếu định quan chế...
Đồ sứ thời Lê sơ với men lam trang trí rồng phượng
Các ngành nghề thủ công nghiệp và xây dựng dưới thời trị vì của Lê Thánh Tông cũng phát triển rực rỡ. Nghề in và làm giấy ở Đại Việt đạt một trình độ cao của thế giới thời bấy giờ. Số lượng sách in thời này khá đồ sộ. Đặc biệt nhất thời kỳ này là thành tựu trong công nghệ chế tạo vũ khí và đồ sắt chiếm ưu thế. Đồ gốm, sứ thời Lê sơ phát triển đạt được độ tinh xảo và hoa văn đẹp. Việc giao thương buôn bán đã chắp cánh cho đồ gốm thời này đi xa và hiện nay bộ sư tập về đồ gốm Lê sơ cũng rất phong phú.
Thương mại và giao dịch buôn bán với các lân bang phát triển mạnh, cùng với bước chân viến chinh xa xôi của đội quân đế chế Đại Việt. Để tạo thuận tiên cho việc mua bán Lê Thánh Tông đã từng khuyến dụ các quan rằng: Trong dân gian hễ có dân là có chợ để lưu thông hàng hoá, mở đường giao dịch cho dân. Các xã chưa có chợ có thể lập thêm chợ mới. Những ngày họp chợ mới không được trùng hay trước ngày họp chợ cũ để tránh tình trạng tranh giành khách hàng của nhau. Có thể dưới thời Lê Thánh Tông các chợ được mở mang nhiều.
Rồng đá Điện Kính Thiên
 
Chính nhờ sự quan tâm đến việc phát triển thương nghiệp nên nền nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ. Các nghề thủ công như: Dệt lụa, ươm tơ, dệt vải, nghề mộc, nghề chạm, nghề đúc đồng cũng phát triển. Kinh đô Thăng Long 36 phố phường sầm uất, nhộn nhịp tồn tại phát triển đến tận ngày nay. Phường Yên Thái làm giấy, Phường Nghi Tàm dệt vải lụa, Phường Hà Tân nung vôi, Phường Hàng Đào nhuộm điều, Phường Ngũ Xá đúc đồng, Phường gạch và gốm sứ Bát Tràng và nhiều phường khác nữa...
Quaân ñoäi vaø quoác phoøng
Vua lê Thánh Tông đặt trọng tâm cùng với cuộc cải cách hành chính, nhà vua tổ chức quân đội chia thành 12 bộ phận
  Quân đội bảo vệ triều đình và kinh thành gồm
2 vệ kim ngưu và cẩm y
4 vệ hiệu lực
4 vệ thần vũ
6 vệ điện tiền
4 vệ tuần tượng
4 vệ mã nhân (sau gộp vào 2 vệ cẩm y, kim ngô)
        Quân địa phương gồm 5 phủ:
Trung quân lãnh các xứ Thanh hóa, Nghệ an
Đông quân lãnh các xứ Hải Dương, An bang
Nam quân lãnh các xứ Sơn Nam, Thuận hóa, Quảng Nam
Tây quân lãnh các xứ Tam giang, Hưng  hóa
Bắc quân lãnh các xứ kinh bắc, Lạng sơn
Về sau vua Lê Thánh Tông còn đặt thêm các vệ quân ở các đô ty xa như: Thanh Hóa. Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam, An Bang, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên,Lạng Sơn, Cao Bằng.đứng đầu các phủ, vệ có chức đô đốc,đô chỉ huy, đô tổng binh, đô chỉ huy sứ, đô tri…có 4 chủng loại là: Bộ binh, Thủy binh, Tượng binh, Kỵ binh. Vua chú ý đến việc rèn luyện quân đội. hàng năm đều có duyệt tập ở kinh thành hoặc địa phương.các phiên túc trực phải thường xuyên luyện tập. năm 1465vua Lê Thánh Tông ban bố 31 điều về mã trận, 42 điều về bộ trận. đến năm 1467 nhà vua lại quy định cứ 3 năm tổ chức một kỳ thi khảo võ nghệ của quân sĩ cùng định lệ thưởng phạt
Về mặt quân sự, nhà vua Lê Thánh Tông cũng đạt đến đỉnh cao của các danh nhân quân sự, ông là nhà quân sự tài ba với tầm nhìn xa, trông rộng đi trước cả ý thức hệ quân sự của người đương thời hàng mấy trăm năm. Ông là nhà tổ chức lão luyện , có biệt tài tổ chức, rền luyện và sử dụng tướng sĩ, quân lính dưới quyền. trên chiến trường ông là vị tướng có tài xoay chuyển tình thế, luôn dồn kẻ địch vào thế bị động đối phó, bị xa sút về tinh thần để giành lấy thắng lợi trọn vẹn trong các cuộc giao tranh, đè bẹp được ý chí xâm lược, buộc chúng phải quy hàng, kiêng nể không giám biên giới, lãnh thổ của quốc gia Đại Việt
Trên lĩnh vực quốc phòng và quân sự, nhà vua Lê Thánh Tông đã để lại cho các dân tộc Việt Nam nhiều bài học sáng giá, cho đến nay vẫn còn vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi. đối với vua Lê Thánh Tông thì về quốc phòng quân sự được đặt trọng tâm hàng đầu song song với kinh tế. Lấy kinh tế làm nèn tảng cho việc củng cố quốc phòng và kiện toàn quân đội, lâyys quốc phòng và quân đội bảo vệ cho việc chấn hưng kinh tế. Vua là nhà chiến lược quân sự có tầm nhìn xa trông rộng, vượt qua ý thức hệ về Quốc phòng và quân sự của thời đại.
Quân đội Đại Việt dưới thời trị vì của vua Lê Thánh Tông là đội quân bách chiến, bách thắng. Những hành động biên giới quốc gia Đại Việt đều bị giáng trả kịp thời.

Vua Leâ Thaùnh Toâng trong chính saùch beân vöïc quyeàn lôïi phuï nöõ

Có lẽ ảnh hưởng lòng hiếu kính đối với Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, người mẹ có từ tâm và luôn thể hiện những bản chất cao quý tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam, người chịu nhiều gian truân, vào sinh ra tử. Từ những ảnh hưởng sâu sắc, từ những cái nhìn tốt đẹp về nữ giới, do đó, vua Lê Thánh Tông đã có một chính sách bên vực quyền lợi phụ nữ, tôn trọng phụ nữ cụ thể:  Phụ nữ Việt Nam, ngay từ thời kỳ đầu dựng nước và giữ nước vốn đã được coi trọng, điều này không phải là không có nguyên nhân xuất xứ của nó, vì Việt Nam vốn dĩ là một đất nước luôn bị ngoại xâm đe dọa, trong việc bảo vệ và tồn tại của dân tộc là việc đấu tranh vệ quốc. Vai trò người phụ nữ thể hiện trong câu nói: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Hình ảnh tiêu biểu của Hai Bà Trưng, bà Lê Chân, bà Lệ Hoa, bà Triệu Thị Trinh… trong việc chống giặc ngoại xâm giành độc lập cho nước nhà. Song việc bên vực quyền lợi phụ nữ được thực hiện một cách táo bạo, rộng rãi, phổ biến tích cực bằng những cải cách mạnh mẽ về pháp luật như nhà vua Lê Thánh Tông đã làm quả là một việc làm nổi bật vượt cả ý thức hệ không những của những người đương thời nước Đại Việt mà còn vượt cả  nước thuộc ý thức hệ đế chế đương thời ở Châu Á.
Mãi cho đến ngày nay, ở nhiều nước trên thế giới, phụ nữ vẫn không có quyền thừa kế tài sản của cha mẹ đẻ lại. Thế mà ở thế kỉ XV, ở Việt Nam, thời trị vì của vua Lê Thánh Tông, phụ nữ vẫn được quyền thừa kế tài sản. Theo đó, các điều trong bộ luật Hồng Đức, minh đinh, vợ và các con đều được hưởng quyền thừa kế tài sản, không phân biệt con trai hay con gái tại các điều 374, 375, 376  Việc trông nom hương hỏa thường được giao cho con trưởng. Nhưng nếu không có con trai trưởng thì giao cho con trai thứ. Trường hợp không có con trai trưởn lẫn con trai thứ, thì giao cho con gái trưởng trông nom ruông hương hỏa gọi là “vô nam dụng nữ” tại điều 391.
Trong bộ luật Hồng Đức còn có điều luật mà nội dung của nó cho đến ngày nay vẫn còn làm cho nam giới có tư tưởng “trọng nam khinh nữ” khó có thể chấp nhận được. Điều luật đó quy định: “phàm chồng đã bỏ vợ quá 5 tháng không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và quan xã làm chứng) thì mất vợ. Nếu vợ đã có con thì hạn 1 năm. Nếu vì việc quan đi xa thì không theo luật này. Nếu đã bỏ vợ mà lại đi ngăn cản người khác lấy vợ mình bỏ thì phải tội biếm” (điều 308)
Cùng với mục đích bên vực quyền lợi người phụ nữ, trong bộ luật Hồng Đức còn có điều quy định “Con gái hứa gả chồng mà chưa thành hôn, nếu người con trai bị ác tật hay phạm tội hoặc phá tán tài sản thì cho phép người con gái kêu quan mà trả lại đồ lễ. Nếu người con gái bị ác tật hay phạm tội, thì không phải trae lại đồ lễ, nếu trái luật thì bị phạt 80 trượng” (điều 322), hoặc “những nhà quyền thế mà ưc hiếp để lấy con gái nhà lương dân, thì xử tội phạt biếm hay đồ” (điều 338). Xem thế, chúng ta nhận thấy vua Lê Thánh Tông đã có cái nhìn xa, sâu sắc về người phụ nữ, về nỗi lòng cùng những thiệt thòi mà người phụ nữ phải gánh chịu. Do đó, phải nói trong các triều đại đế chế Việt Nam, chỉ có vua Lê Thánh Tông là nhà vua có những cải cách táo bạo, sâu sắc đối với việc bên vực quyền lợi người phụ nữ, khỏi những chà đạp nhân phẩm về hệ tư tưởng cục bộ lỗi thời, góp phần nâng cao vai trò người phụ nữ trong lịch sử phát triển và đấu tranh của dân tộc Việt Nam
                                      Phần :Đánh giá chung




 Lịch sử Việt Nam dưới thời trị vì của vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) đạt đến trình độ cực thịnh. Bên ngoài các nước láng giềng đều kính nể Đại Việt, quan hệ hòa hảo với các nước được thiết lập các miền biên cương, suốt dảI từ Bắc chí Nam, từ Đông sang Tây trong nhiều năm êm ả. Toàn vẹn lãnh thổ được bảo đảm, an ninh đất nước được duy trì, nông nghiệp trù phú, nhiều năm liền được mùa, thương nghiệp mở mang giao lưu thông suốt
Vua Lê Thánh Tông một con người giàu lòng nhân nghĩa, một trí tuệ lớn đã đem lại sự hưng thịnh cho quốc gia dân tộc, những đóng góp của Ông cho đất nước thật là to lớn và không ai có thể sánh bằng. Cuộc đời của Ông là cuộc đời của một người hoạt động sôi nổi trên tất cả mọi lĩnh vực, mà lĩnh vực mào cũng xuất sắc, là một rất thiết tha với chủ quyền quốc gia.
Vua Lê Thánh Tông lên ngôi sau khi triều thần phế Lạng Sơn Vương Nghi Dân dẹp được loạn Trần Lãng, Phạm Đồn, Phan Ban. Trước tình thế đất nước rối ren thù trong giặc ngoài như thế, nhưng nhờ tài năng xuất chúng, trí tuệ lỗi lạc của mình, vua Lê Thánh Tông đã mạnh dạn cách tân mọi lĩnh vực hành chính, kinh tế, chính trị, giáo dục, thi cử và võ bị quốc phòng, nhanh chống ổn định trật tự xã hội, nâng cao vị thế của nước Đại Việt trên trường quốc tế thời bấy giờ.
Dưới thời Lê Thánh Tông bộ máy nhà nước Trung Ương tập quyền đạt đến mức hoàn bị, từ Trung Ương xuống đến xã. Thế lực của đại quí tộc bị hạn chế, thay vào đó là sự tham chính của tầng lớp sĩ phu, nho giáo được tuyển chọn bằng con đường thi cử.
Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta xuất hiệ bộ luật “Hông Đức” nổi tiếng mang niên hiệu vua Lê Thánh Tông đây là một bộ luật khá là hoàn chỉnh và có nhiều tiến bộ vượt mà cho đến ngày nay một số điều trong bộ luật vẫn còn nguyên giá trị. Điều đó cho thấy vua Lê Thánh Tông là một con người am hiểu tình hình xã hội, từ đó đưa ra những luật lệ phù hợp với sự phát triển của đất nước.
Vua Lê Thánh Tông còn khuyến khích phát triển nông nghiệp, nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện của đất nước về mọi mặt, mà trước tiên là đảm bảo nhu cầu lương thực, khuyến khích nhân dân khai hoang, năm 1482 cho thành lập 43 sở đồn điền, ban hành nhiều điều luật nhằm bảo vệ sức kéo, khuyến khích sức sản xuất nông nghiệp
Vua Lê Thánh Tông cũng rất quan tâm đến vấn đề thi cử, và tuyển chọn quan lại theo con đường thi cử. Vì Ông cho rằng “nhân tài là nguyên khí của quốc gia”. Ông là một con người có tư  tưởng tiến bộ so với sự phát triển của thời đại. Chính vì thế mà đã tạo nên một Đại Việt phát triển hưng thịnh và rực rỡ.
Bản thân nhà vua cũng là một nhà văn hóa lớn, Người đã giải oan cho Nguyễn Trãi, trong vụ án “Lệnh Chi Viên”, tìm con cháu Nguyễn Trải còn sống sót và ra lệnh sưu tầm thơ văn của Nguyễn Trãi. Lê Thánh Tông còn là người rất giỏi văn chương, Ông đã sáng tác một khối lượng lớn thơ văn bao gồm cả chữ Nôm lẫn chữ Hán.
Tóm lại, vua Lê Thánh Tông – một đấng anh quân, một con người hiếu nghĩa và đa tài đã đưa nước Đại Việt lên địa vị cực thịnh thế kỉ XV. Những đóng góp của Ông cho đất nước thật là to lớn và vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Tài năng của Ông đã được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, hiếm khi trong lịch sử nước nhà lại có một vị minh quân tài giỏi và hiếu nghĩa đến thế. Ông là một tấm gương để người đời sau luôn nhớ đến và tôn sùng Ông về trí tuệ lẫn nhân phẩm

Young Be A sưu tầm,chỉnh sửa
 

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Sự kết hợp chính trị - quân sự - ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước



Sự kết hợp chính trị - quân sự - ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Ngày 21-7-1954, với việc các bên liên quan ký Hiệp nghị Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Đông Dương, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta kết thúc thắng lợi. Cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới – thời kỳ tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Tuy nhiên, sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta chưa hoàn thành. Cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, hoà bình chưa kết thúc vì đế quốc Mỹ, kẻ thế chân thực dân Pháp, “đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương”. Chính quyền Mỹ chủ trương phá hoại việc thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, lôi kéo, thành lập chính quyền tay sai, áp đặt chế độ thực dân mới ở miền Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.
Trước tình hình mới đặt ra sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, thời gian đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện đấu tranh thống nhất Việt Nam trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình và xác định đây là cuộc đấu tranh rất gian khổ và phức tạp. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, huy động bộ máy quân đội, cảnh sát đàn áp, khủng bố, bắt bớ, giam cầm, giết hại hàng chục vạn cán bộ, đảng viên và người dân yêu nước bằng các chiến dịch tố cộng đẫm máu, khốc liệt trên quy mô toàn miền Nam. Phong trào cách mạng miền Nam bị tổn thất lớn cả về cơ sở tổ chức và lực lượng. Đấu tranh chính trị, sử dụng các phương pháp hoà bình để thống nhất nước nhà tỏ ra không hiệu quả trước dã tâm tiêu diệt cách mạng miền Nam bằng vũ lực của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm.
Phong trào Đồng Khởi năm 1959-1960


Hội nghị lần thứ 15 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá II), tháng 1-1959, đã họp và đi tới quyết định: dùng bạo lực cách mạng, cụ thể là dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Nghị quyết 15 của Đảng đã kịp thời đáp ứng được tình hình thực tế đang diễn ra ở miền Nam, đáp ứng được đòi hỏi của cách mạng miền Nam, thổi bùng ngọn lửa đấu tranh của quân và dân miền Nam chống lại chính quyền độc tài, phát xít, tay sai Mỹ. Đấu tranh vũ trang từng bước được chú trọng, phát triển rộng khắp, đã hỗ trợ tích cực cho phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân.
Nghị quyết 15 là cơ sở trực tiếp dẫn tới thắng lợi của phong trào Đồng khởi nổ ra đầu năm 1960 trên phạm vi toàn miền Nam. Hội nghị Xứ uỷ Nam Bộ tháng 7-1960 đã nhận định: “... Chúng ta chấp hành đúng đắn Nghị quyết của Trung ương Đảng, đẩy mạnh đấu tranh chính trị và kết hợp với hoạt động vũ trang, lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu, tình hình nông thôn Nam Bộ đã biến chuyển có lợi cho cách mạng. Khí thế quần chúng lên cao, tương quan lực lượng giữa ta và địch có những thay đổi quan trọng...”. Nghị quyết Hội nghị Xứ uỷ xác định: “Tích cực đẩy mạnh đấu tranh chính trị có kết hợp đấu tranh vũ trang đúng mức để tiếp tục phá thế kìm kẹp, giữ vững và mở rộng thế chủ động ở nông thôn, đồng thời phải hết sức chú trọng đẩy mạnh phong trào đô thị”.
Thắng lợi của phong trào Đồng khởi “đánh dấu một bước nhảy vọt quan trọng chuyển cách mạng miền Nam sang thế tiến công, phát triển cao trào cách mạng ra khắp miền với sự kết hợp cả hai hình thức đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự”.
Sau phong trào Đồng khởi, tình hình cách mạng miền Nam đã có sự chuyển biến quan trọng, từ thế giữ gìn lực lượng tiến lên thực hành chiến tranh cách mạng. Nhân dân ta từ thế bị kìm kẹp, bị khống chế và kiểm soát đã vùng lên thành một phong trào đấu tranh rộng lớn và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Đã xuất hiện các cuộc đấu tranh chính trị quy mô lớn bằng mít tinh, biểu tình của nông dân, công nhân và các tầng lớp nhân dân, có sự liên kết với nhau từ tỉnh này đến tỉnh khác, từ thôn quê kéo vào các thị trấn, thị xã, thành phố.
Phong trào đấu tranh vừa hợp pháp vừa không hợp pháp, đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, đã làm tan rã một mảng lớn chính quyền cơ sở thôn xã của địch ở Nam Bộ, Khu 5; đã tiêu diệt và làm tan rã hàng vạn tề nguỵ và lực lượng vũ trang của địch; phá các khu trù mật và khu dinh điền, giành lại một số lớn ruộng đất cho nông dân. Khí thế đấu tranh của quần chúng nhân dân lên cao. Các hình thái du kích cục bộ và khởi nghĩa từng phần xuất hiện, đã mở ra một cao trào cách mạng mới.
Nếu như trước phong trào Đồng khởi, Trung ương Đảng chủ trương sử dụng các lực lượng vũ trang tuyên truyền tới một mức nhất định để tự vệ và để phục vụ cho đấu tranh chính trị, lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu, đấu tranh quân sự có vai trò hỗ trợ đấu tranh chính trị, thì sau Đồng khởi, Đảng cho rằng phải chuyển phương châm đấu tranh: đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự. Tuy nhiên, phương châm này vẫn phải căn cứ vào tình hình cụ thể ở các vùng nông thôn đồng bằng, thành thị và rừng núi, tuỳ vào so sánh lực lượng giữa ta và địch để đề ra hình thức đấu tranh cho phù hợp.
Đối phó với chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, vấn đề xây dựng lực lượng chính trị, phát động quần chúng đấu tranh, xây dựng lực lượng vũ trang, tiêu diệt sinh lực địch, tiến hành công tác binh vận, củng cố và mở rộng căn cứ địa... được chú ý thực hiện.
Cũng trong thời kỳ 1961-1964, để phối hợp với đấu tranh chính trị, quân sự ở miền Nam, Đảng ta chủ trương mở một cuộc đấu tranh ngoại giao trên các diễn đàn của Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới, Bộ Ngoại giao, các phương tiện thông tin báo chí... nhằm vạch trần và lên án âm mưu can thiệp mới của đế quốc Mỹ chuẩn bị đưa quân vào miền Nam và tiến hành các hoạt động phá hoại miền Bắc. Đồng thời, Đảng ta cũng ra Nghị quyết nêu rõ quan điểm của Đảng về các vấn đề quốc tế, về sự bất đồng trong phong trào cộng sản quốc tế và trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa, khẳng định thái độ xây dựng đoàn kết và quyết tâm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Những thắng lợi trên mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao của quân và dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc đã làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ, buộc chúng phải thay đổi, tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đưa quân chiến đấu Mỹ vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam, leo thang chiến tranh, đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân.
Tuy nhiên, Đảng ta đã nhận định rằng: Mỹ đưa quân vào miền Nam trong tình thế bị động về chiến lược, khi mà nguỵ quân, nguỵ quyền đang đứng trước nguy cơ tan rã và sụp đổ hoàn toàn, còn cách mạng miền Nam đang ở thế tiến công mạnh mẽ cả về chính trị và quân sự. Từ năm 1959 đến cuối 1963 là thời kỳ tiến công địch chủ yếu bằng đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang đang từng bước được nâng lên về lực lượng và cách đánh, thì từ năm 1964 trở đi, đấu tranh quân sự ngày càng chiếm địa vị chủ yếu. Các trận Bình Giã, Núi Thành, Vạn Tường, Plây Me... đã khẳng định rằng quân và dân ta hoàn toàn có khả năng đánh bại quân Mỹ có ưu thế hơn hẳn về hoả lực, binh khí kỹ thuật và tính cơ động.
Việc Mỹ đưa hàng chục vạn quân vào miền Nam, sử dụng lực lượng quân sự to lớn hòng tiêu diệt cách mạng miền Nam và các lực lượng vũ trang giải phóng, tất yếu ta phải sử dụng đấu tranh quân sự để giáng trả. Đảng ta cho rằng có tiêu hao, tiêu diệt được một bộ phận quan trọng quân Mỹ, chỗ dựa chủ yếu và nòng cốt của quân đội Sài Gòn, vừa làm cho quân Mỹ không còn đủ sức bảo vệ quân đội và chính quyền tay sai, đồng thời chính là để tiêu diệt quân nguỵ, chỗ dựa tại chỗ của quân Mỹ. Dùng đòn quân sự để đánh bại quân Mỹ, quân nguỵ chính là nhằm làm thất bại mục đích chính trị của cuộc chiến tranh của địch, mới có thể giành thắng lợi trong toàn bộ cuộc chiến tranh.
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là, do so sánh lực lượng, Đảng ta không chủ trương đánh tiêu diệt đến tên lính Mỹ cuối cùng, buộc chúng đầu hàng không điều kiện, mà chủ trương đánh tan rã về cơ bản quân nguỵ đồng thời tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân Mỹ, đập tan ý chí tiếp tục chiến tranh xâm lược của Mỹ, buộc chúng phải đàm phán theo những điều kiện ta đưa ra. Như thế, trong đấu tranh quân sự, chúng ta kết hợp cả đấu tranh ngoại giao, vừa đánh vừa đàm. Điều này phù hợp và gắn liền với đường lối chính trị, quân sự của Đảng đề ra.
Thực tế những năm quân và dân hai miền Nam, Bắc đối phó với chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, ta đã đánh thắng hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966; 1966-1967 của Mỹ, đánh bại chủ trương chiến lược “tìm diệt”, rồi “quét-giữ”, hòng giành thế chủ động chiến trường của chúng. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 giành được thắng lợi to lớn, đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, làm cho Mỹ phải thừa nhận không thể giành thắng lợi quân sự. Cộng với thất bại trong cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn đối với miền Bắc, Mỹ buộc phải chấp nhận đàm phán với ta để tìm lối thoát khỏi cuộc chiến tranh hao người, tốn của, mất lòng dân này.
Khi chủ trương mở mặt trận đấu tranh ngoại giao, Đảng ta khẳng định: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay, đối với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, cuộc đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”.
Thực tế cuộc kháng chiến cho thấy, quân và dân ta, từ sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nhờ phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa hoạt động quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, kết hợp cuộc chiến đấu trên chiến trường với cuộc đấu tranh trên trường quốc tế và trong lòng nước Mỹ, quân và dân ta đã từng bước giành được thắng lợi to lớn, buộc quân Mỹ phải xuống thang chiến tranh ở miền Nam, từng bước rút quân chiến đấu về nước, chấm dứt ném bom đánh phá miền Bắc...
Mặc dầu vậy, Mỹ vẫn triển khai thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” thay cho chiến lược “chiến tranh cục bộ”, mở rộng chiến tranh xâm lược sang cả Cam-pu-chia và Lào. Bởi thế, yêu cầu đẩy mạnh cả ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có những thay đổi, càng trở nên cấp thiết. Trên chiến trường, năm 1971-1972 quân ta mở các đợt hoạt động quân sự mạnh mẽ, đánh bại các cuộc hành quân, càn quét của quân Mỹ, quân nguỵ sang Cam-pu-chia, sang Nam Lào, tiến công địch ở Trị Thiên, Khu 5 và miền Đông Nam Bộ, đối phó có hiệu quả cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của Mỹ, đặc biệt là đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không của Mỹ bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương trên miền Bắc cuối tháng 12-1972. Về chính trị, ngoại giao, ta đã đấu tranh và vạch trần âm mưu của Mỹ lôi kéo một số nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, ta đẩy mạnh tuyên truyền về cuộc kháng chiến chính nghĩa, hướng dư luận quốc tế vào lên án Mỹ âm mưu kéo dài, mở rộng chiến tranh, sử dụng cả máy bay ném bom chiến lược ném bom rải thảm xuống giữa thủ đô Hà Nội một cách tàn bạo, có tính huỷ diệt. Ta cũng lợi dụng năm 1972 là năm bầu cử tổng thống Mỹ để tranh thủ dư luận, gây sức ép buộc chính quyền Mỹ phải sớm ký kết hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương.
Cơ chế và cục diện “vừa đánh vừa đàm”, được mở ra từ sau khi Hội nghị Pa-ri nhóm họp, chính là sự phản ánh sinh động phương châm kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao, đã phát huy cao độ sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại, đã từng bước đánh thắng địch, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận thương lượng và ký kết theo những điều kiện của ta.
Mỹ đã thất bại trong mưu đồ đàm phán trên thế mạnh, không ép buộc được ta phải chấp nhận những điều kiện do Mỹ đặt ra mặc dù chúng có sức mạnh quân sự vượt trội. Chiến dịch ném bom huỷ diệt Hà Nội, Hải Phòng cũng không khuất phục được quân và dân ta. Vì thế, việc phải đặt bút ký vào Hiệp định Pa-ri, phải rút hết quân về nước, trong khi đó lực lượng bộ đội miền Bắc vẫn ở lại miền Nam sau khi hiệp định có hiệu lực, là một thất bại lớn của Mỹ, thể hiện một cách rõ rệt nhất thất bại của Mỹ trên chiến trường hai miền Nam, miền Bắc Việt Nam.
Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình là kết quả của một chặng đường lịch sử kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao, trong đó đấu tranh ngoại giao đóng vai trò quan trọng cùng với đấu tranh quân sự, chính trị đánh bại cơ bản chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của kẻ thù, buộc Mỹ phả rút hết quân, tạo cơ sở vô cùng thuận lợi để quân và dân ta tiến lên đánh cho nguỵ nhào.
Trong giai đoạn sau khi ký Hiệp định Pa-ri, để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, Đảng ta vẫn khẳng định chỉ có thể bằng con đường sử dụng bạo lực cách mạng theo hai khả năng: hoặc là giành thắng lợi bằng một cao trào cách mạng của quần chúng hoặc là lại tiến hành chiến tranh cách mạng để tiến lên giành toàn thắng. Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, họp từ 19-6 đến 6-7-1973 (đợt 1), cho rằng, tình hình cách mạng “có thể diễn ra dưới hình thức chuyển từ phong trào đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định lên thành một cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong vùng địch còn kiểm soát... Đây là khả năng giành thắng lợi không phải thông qua con đường chiến tranh cách mạng mà chủ yếu bằng phong trào đấu tranh cách mạng, bằng hành động bạo lực của quần chúng, nhưng cũng phải trên cơ sở ta giữ vững và củng cố được thế quân sự của ta ngày càng mạnh, biết dùng sức mạnh quân sự của ta..., kết hợp chính trị với quân sự và ngoại giao để dằn địch lại, không để cho chúng mở rộng xung đột quân sự để gây lại chiến tranh”.
Báo cáo nhấn mạnh: “Việc vận dụng đúng đắn, linh hoạt và sắc bén phương châm đấu tranh trong thời kỳ hiện nay là vấn đề rất quan trọng. Trong quá trình tiến lên của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới... thì phương châm đấu tranh của ta phải là đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao; kết hợp ba mũi chính trị, quân sự và binh vận, nắm vững phương châm ba vùng, để giành dân và giành quyền làm chủ”.
Thực hiện chủ trương của Đảng, quân và dân ta ở miền Nam vừa tăng cường đấu tranh quân sự, chính trị, chống địch lấn chiếm, giành và giữ quyền làm chủ, chủ động chuẩn bị lực lượng, vật chất mọi mặt, vừa kiên trì cuộc đấu tranh ngoại giao đòi chính quyền, quân đội Sài Gòn thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri.
Đến cuối năm 1974, đầu năm 1975, tình hình so sánh, lực lượng trên chiến trường đã cho phép Đảng ta xác định: “Nhiệm vụ sắp tới của chúng ta là nắm vững thời cơ lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp, đánh những trận quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ”.
Kế hoạch chiến lược 2 năm 1975-1976 giải phóng miền Nam được chuẩn bị kỹ càng, bắt đầu bằng trận đánh điểm huyệt ngày 10-3-1975 làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột trong chiến dịch Tây Nguyên, đã tạo nên tình thế chiến lược bất ngờ, mở ra khả năng đánh bại kẻ thù bằng kết hợp hai đòn tiến công và nổi dậy trong thời gian ngắn, giải phóng miền Nam.
Thực tế diễn biến của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo, quyết đoán trong sự chỉ đạo của Đảng trong việc động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đẩy mạnh đấu tranh quân sự chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao, nên đã làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta. Điều đó đã dẫn đến thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vào ngày 30 – 4 – 1975  lịch sử.
Young be a:
 

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN



            
         
            Bất kì một nước nào, gắn liền với sản xuất công nghiệp và sự hình thành và phát triển của giai cấp công nhân. Dù trình độ và quy mô của công nghiệp và giai cấp công nhân còn có khác nhau giữa các nước, song sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân có những đặc điểm cơ bản sau :
            – Giai cấp công nhân là giai cấp đối lập về lợi ích vật chất với giai cấp tư sản, là giai cấp Cách mạng nhất, có sứ mệnh xóa bỏ chế độ tư bản, xây dựng xã hội mới không có áp bức, bóc lột.
            – Giai cấp công nhân là giai cấp được đào luyện trong nền sản xuất hiện đại nên có tính tổ chức cao, có khả năng tiếp thu lí luận Cách mạng của thời đại.
            – Giai cấp công nhân vừa có tính triệt để Cách mạng, vừa có khả năng tập hợp rộng rãi các giai cấp và tầng lớp xã hội trong dân tộc.
            – Giai cấp công nhân có tính quốc tế và có bản sắc dân tộc.
            1 – Giai cấp vô sản là giai cấp tiên tiến nhất :
Là sản phẩm của nền công nghiệp lớn, gắn liền với sự phát triển của công nghiệp lớn, giai cấp vô sản là người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản và là người sáng tạo nền văn minh mới – Cộng sản chủ nghĩa. Lênin nói :“ Nếu những kẻ bóc lột của thời đại trước – bọn chúa đất – đã cướp bóc và áp bức nông nô sống rời rạc, tản mác và dốt nát, thì bọn bóc lột hiện đại, bọn tư bản, lại đang đứng đối diện với đội ngũ tiên tiến của quần chúng bị áp bức, những công nhân công nghiệp trong các công xưởng và nhà máy ở thành thị. Nhà máy đã đoàn kết họ lại, đời sống thành thị đã mở mang trí tuệ cho họ, cuộc đấu tranh bãi công chung và hoạt động cách mạng đã tôi luyện họ”.
            Là giai cấp tiên tiến, giai cấp vô sản có khả năng lãnh đạo toàn thể nhân dân lao động trong tất cả các giai đoạn đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Do vai trò kinh tế của nó trong nền sản xuất lớn, giai cấp vô sản là giai cấp duy nhất có thể lãnh đạo tất cả quần chúng lao động và bị bóc lột, những quần chúng này thường bị giai cấp tư sản bóc lột, đàn áp, giày xéo không kém gì giai cấp vô sản mà còn tệ hơn, nhưng họ không thể độc lập đấu tranh để giải phóng được.
            Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện nay, vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản không những không giảm đi như bọn chống cộng và xét lại cố chứng minh, mà còn được đề cao hơn. Điều đó thể hiện ở vị trí của giai cấp vô sản là lực lượng sản xuất chủ yếu, do đó tăng thêm khả năng tác động đến quan hệ giữa lao động và tư bản, đến các chính sách kinh tế, chính trị... của nhà nước tư bản chủ nghĩa.
            2 – Giai cấp vô sản có tinh thần cách mạng triệt để :
Giai cấp vô sản bị  giai cấp tư sản áp bức bóc lột ngày càng nặng nề mà nguồn gốc của nó là sự tồn tại chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Vì sự sống còn, giai cấp vô sản phải đứng lên lật đổ chủ nghĩa tư bản. Giai cấp vô sản chỉ có thể được hoàn toàn giải phóng khi xoá bỏ triệt để chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Như vậy, để giải phóng mình, giai cấp vô sản phải giải phóng toàn xã hội. Trong cuộc đấu tranh cách mạng đó họ không mất gì ngoài xiềng xích trói buộc họ mà được cả thế giới về mình. Đó là cơ sở của tinh thần cách mạng triệt để của giai cấp vô sản.
            3 – Giai cấp vô sản có ý thức tổ chức kỉ luật cao :
Được rèn luyện trong quá trình lao động của nền công nghiệp lớn, giai cấp vô sản có tinh thần đoàn kết, có ý thức tổ chức, kỉ luật cao. Tinh thần đoàn kết, tính tổ chức, tính kỉ luật của giai cấp vô sản không ngừng được củng cố và rèn luyện trong quá trình đấu tranh chống giai cấp tư sản.
            4 – Giai cấp vô sản có bản chất quốc tế :
Giai cấp vô sản tất cả các nước đều cùng cảnh ngộ bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột. Họ ở vào địa vị kinh tế – xã hội giống nhau. Mục tiêu đấu tranh của họ là thống nhất.
Khi chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, giai cấp tư sản các nước liên minh với nhau trên phạm vi thế giới, tăng cường áp bức, bóc lột và điên cuồng chống phá phong trào cách mạng của giai cấp vô sản. Chúng là kẻ thù chung của giai cấp vô sản tất cả các nước. Vì vậy sự đoàn kết quốc tế, giúp đỡ lẫn nhau, phối hợp đấu tranh trên phạm vi thế giới của giai cấp vô sản là một trong những tất yếu khách quan cho sự giải phóng của họ. Cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản về thực chất là cuộc đấu tranh quốc tế.
            Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế do điều kiện kinh tế – xã hội quy định. Ngoài ra, do điều kiện lịch sử cụ thể, giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm nổi bật sau đây :
             – Giai cấp công nhân Việt Nam kế tục truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc qua hàng ngàn năm lịch sử chống ngoại xâm, ba tầng áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc. Dưới giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp tư sản trong nước cho nên giai cấp công nhân Việt Nam có tinh thần cách mạng kiên cường, bất khuất.
            – Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản, sớm có Đảng Mác – Lênin lãnh đạo, được lãnh tụ vĩ đại của mình là Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục và rèn luyện cho nên giành được độc quyền lãnh đạo cách mạng ngay sau khi Đảng ra đời.
            – Phần lớn công nhân nước ta xuất thân từ nông dân nghèo lại thường xuyên có quan hệ về kinh tế, xã hội với nông dân, do đó dễ dàng thực hiện được khối liên minh công nông vững chắc – cơ sở của khối đoàn kết toàn dân rộng rãi. Vì vậy, giai cấp công nhân giữ vững được quyền lãnh đạo trong suốt quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa.
            Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, khi chủ nghĩa cơ hội của Quốc tế thứ hai bị phá sản, phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh mẽ, do đó nó không bị ảnh hưởng của các khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa; nó luôn luôn gắn bó chặt chẽ với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
            Do có những đặc điểm trên, nên giai cấp công nhân Việt Nam tuy non trẻ và số lượng ít, nhưng đã tỏ ra xứng đáng là đội tiên phong tin cậy của dân tộc, đội ngũ kiên cường của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Hồ Chủ tịch nói : “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân.
            Phân tích địa vị kinh tế – xã hội và những đặc điểm của giai cấp vô sản, Mác và Ăngghen đã phát hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản, lực lượng xã hội duy nhất có tính năng động lịch sử vĩ đại, có năng lực cách mạng to lớn, có sứ mệnh xoá bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chế độ cộng sản chủ nghĩa để tự giải phóng mình, giải phóng dân tộc mình và giải phóng toàn thế giới.
            Việc phát hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là một thành tựu vĩ đại của học thuyết Mác, làm cơ sở xuất phát cho toàn bộ lí luận của chủ nghĩa cộng sản khoa học. Lý luận đó làm cho giai cấp vô sản “tự nhận thức được mình và có ý thức về mình và đã đem khoa học thay thế cho mộng tưởng”. Chính Mác và Ăngghen đã suốt đời mình đem lí luận để giáo dục, giác ngộ giai cấp vô sản nhận thức về sứ mệnh lịch sử của họ.
            Thực tiễn lịch sử ngày càng chứng minh sự đúng đắn và chính xác của học thuyết Mác. Giai cấp vô sản thế giới không ngừng lớn mạnh và đứng lên đấu tranh nhằm lật đổ giai cấp tư sản, xây dựng một thế giới mới của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
            Từ sau Cách mạng Tháng Mười, giai cấp công nhân quốc tế thực sự có vai trò tiên phong và giữ vị trí trung tâm của thời đại. Với sự phát triển của ba dòng thác cách mạng, vị trí và vai trò của giai cấp công nhân ngày càng nổi bật, thúc đẩy sự phát triển đúng hướng của lịch sử loài người.

By GS Tinh and Phuong Nguyen in Lớp Sử 3B (09-13) - ĐHSP Huế (Files) · Sửa văn bản


                           ( Theo : Chủ nghĩa Cộng Sản khoa học )
Young be a sưu tầm chỉnh sửa:


 

Thứ Tư, 1 tháng 5, 2013

Hình ảnh nhà rông truyền thống làng Kon Mông (Quê tôi)

Nhà rông quê tôi nè-làng Kon Mông-Đăk Hring-Đăk Hà-Kon Tum
Udate: 2013



Chụp từ phía Đông sang,bị mặt trời lúc buổi chiều chiếu rọi
                                       

Chụp từ phía Nam lên

chụp từ gốc độ Tây Nam lên





Chụp từ phía Tây sang




Chụp từ phía Tây Băc sang


Lũ trẻ làng Kon Mông chơi bời cạnh nhà rông

Một phút làm điệu trước ống Camera

Nghiêm chỉnh tự hào mình là con dân Kon Mông đứng trước biểu tượng nhà Rông

một chút của tác giả,tác phẩm


Cùng chụp nào

Tổng hợp video clip hay của Apink

1.Apink-MY MY 2.A PINK 'HUSH' 3.A pink It Girl

Chương trình ghi đĩa Nero 7


Giao diện chính của chương trình ghi đĩa Nero 7

Đây là một trong những chương trình ghi đĩa chuyên nghiệp của dòng phần mềm Nero.Chạy trên mọi phiên bản của windows.
Tải về:
http://www.mediafire.com/?4llipqw01e1voxw

Chức cả nhà vui vẽ:Young be a

Nguồn: Trang trí blog mùa giáng sinh với hiệu ứng tuyết rơi, ông già Noel và giàn chuông cực hot | Sử Minh Thành http://smthanh.blogspot.com/2012/12/trang-tri-blog-mua-giang-sinh-voi-hieu.html#ixzz2RLJerMpo Follow us: @suminhthanh on Twitter | smthanh on Facebook